Image default

365 ngày với cha thánh Eymard – tháng 3

Ngày 1/3

“Thánh Thể chính là đỉnh điểm trong kế hoạch của Thiên Chúa.” [ ]

Các thánh sử, chẳng hạn như Gioan, đã cảnh tỉnh chúng ta về chân lý: bản tính nội tại của Thiên Chúa chính là tình yêu. Khi suy niệm về điều này, chúng ta phải luôn nhớ rằng tình yêu không chỉ là một ưu phẩm trong bản tính của Thiên Chúa, nhưng chính Ngài là tình yêu- đó là bản tính của Ngài! Và điều này làm cho bản tính cũng như tình yêu của Thiên Chúa hoàn toàn khác biệt với bất cứ thứ gì chúng ta có thể cảm nghiệm được với tư cách là những con người có giới hạn. Dĩ nhiên, yếu tính của tình yêu Thiên Chúa chính là sự cho đi hoàn toàn và đến mức cạn kiệt. Từ muôn thưở, mỗi Ngôi trong Ba Ngôi đều hiện hữu trong hành vi tuôn đổ chính mình cho hai Ngôi còn lại. Không chỉ dừng lại ở đó, Thiên Chúa còn ao ước đi xa hơn vì bản tính của Ngài chính là tình yêu: Ngài đã tuôn đổ chính mình ra khỏi vòng tình yêu của Ba Ngôi, trước hết là trong hành động sáng tạo vĩ đại (Tv 19,1); việc tuôn đổ thứ hai chính là biến cố Nhập Thể qua đó Thiên Chúa trao ban tình yêu vô biên của Ngài cho mọi loài hữu hình và vô hình nơi Ngôi Hai Thiên Chúa- Đức Giê-su, Con Một của Ngài; nhưng một cách đặc biệt cho chúng ta là những hữu thể có trí khôn.

Quả vậy, tình yêu tự bản chất thì không có giới hạn hay ranh giới. Vì thế, trong việc tuôn đổ tình yêu cao cả hơn, Đức Giêsu- Đấng Cứu Độ và là anh của chúng ta đã nghĩ ra một cách thức sung mãn hơn để biểu lộ tình yêu của Người, khi Người yêu thương họ đến cùng: Người đã ban chính mình cho chúng ta dưới hình bánh bị bẻ ra và Chén được chia sẻ (Ga 13,1-15). Thế nhưng, Người đã không giới hạn ý nghĩa này chỉ trong vài ngày hay ở vài nơi nào đó. Người phán: ‘Mỗi khi anh em làm việc này, là anh em tưởng nhớ đến Thầy’ để đảm bảo cho chúng ta rằng bất kể khi nào chúng ta quy tụ lại nhân danh Người trong đức tin và đức mến, thì tình yêu vô biên của Người sẽ ở giữa chúng ta. Hơn nữa, chúng ta sẽ không xem Thánh Thể như một điều gì “ở bên ngoài!” Vì giới hạn của con người chúng ta, một cách nào đó, đã được thanh tẩy bởi một nghi thức chỉ có thể diễn ra đúng thời và đúng chỗ. Tuy nhiên, Người đã quyết định kết quả của nghi lễ này, chẳng hạn như sự hiện diện thực sự của Người giữa chúng ta sẽ mang tính riêng tư, thân mật, và kéo dài mãi. Vì thế, Người đã chọn lựa để ở lại “Phòng Tiệc Ly Nội Tâm”, nơi cung lòng của mỗi người!

Quả thực, Thiên Chúa không thể đi xa hơn trong ước muốn của Ngài để đến gần với con người chúng ta. Trong và qua Thánh Thể, Ngài trở thành xác thể của thân xác chúng ta, và sự sống của sự sống chúng ta, trở thành nhịp đập của trái tim trong con người chúng ta. Tất cả những gì chúng ta cần làm là ý thức một cách sâu xa về mầu nhiệm vĩ đại này, và để mầu nhiệm ấy trổ sinh những hoa trái hằng mong đợi: sự an bình sâu thẳm, niềm vui viên mãn, tình thân hữu, sự tha thứ, lòng quảng đại, sẵn sàng bẻ nát đời mình cho người khác và cho tất cả mọi sự. Thực ra, tình yêu Đức Ki-tô nơi Thánh Thể quá vĩ đại đến nỗi Người không đòi hỏi bất kỳ thứ gì nơi chúng ta, ngoại trừ là chúng ta đón nhận tình yêu của Người trong đức tin và lòng quảng đại, và để cho tình yêu ấy tuôn tràn. Ngoại trừ một điều kiện không thể tránh đó là phải chết đi cho Cái Tôi, còn thì Thiên Chúa không đòi hỏi dù chỉ một nỗ lực nhỏ nhoi nơi chúng ta: đơn giản là Ngài tuôn đổ tình yêu của Ngài vào tâm hồn chúng ta, hoàn toàn tự nguyện! Và khi tình yêu của Người bao trùm, tình yêu ấy sẽ làm cho chúng ta ngày càng trở nên giống Thiên Chúa, đó là: yêu thương người khác!

Ngày 2/3

“Thánh Lễ là sự cảm nếm trước bàn tiệc vĩnh cửu.” [ ]

Vì khoảng cách vô biên giữa Thiên Chúa với chúng ta, nên chúng ta phải trở về với việc dùng ngôn ngữ biểu tượng khi đề cập đến mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa. Tuy nhiên, chúng ta không thể quên rằng những biểu tượng tự bản chất chứa đựng những khía cạnh của thực tại mà chúng ám chỉ, mặc dù thực tại luôn luôn vĩ đại hơn những gì mà biểu tượng có thể chuyển tải. Vì thế, chính Thánh Lễ, thậm chí trong điều kiện tốt nhất, cũng sẽ không diễn tả hết được bàn tiệc Nước Trời- “Vì chưng sự hiểu biết thì có ngần, ơn nói tiên tri cũng có hạn. Khi cái hoàn hảo tới, thì cái có ngần có hạn sẽ biến đi. Cũng như khi tôi còn là trẻ con, tôi nói năng như trẻ con, hiểu biết như trẻ con, suy nghĩ như trẻ con; nhưng khi tôi đã thành người lớn, thì tôi bỏ tất cả những gì là trẻ con. Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt. Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi. Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến.” (1Cr 13,9-13).

Tuy nhiên, chúng ta cần nhận ra rằng vì chúng ta dùng ngôn ngữ biểu tượng trong phụng vụ nên chúng ta có nguy cơ đánh mất hoàn toàn thực tại bên trong vốn là điều quan trọng nhất. Vì biểu tượng phải bao gồm hai khía cạnh: hữu hình và vô hình, chính khía cạnh hữu hình ám chỉ đến khía cạnh vô hình cũng như làm cho khía cạnh vô hình được hiện thực! Nhưng khi cử hành Thánh Thể, hầu như chúng ta chỉ nắm bắt những yếu tố bên ngoài, thực ra, chúng ta có thể bị thu hút quá nhiều vào đó đến nỗi chúng ta sẽ không thể hiện tại hóa bất cứ “thực tại bên trong” nào cũng như sẽ kết thúc bằng một cử chỉ trống rỗng. Vì thế, việc bẻ bánh bên ngoài phải ám chỉ đến việc bẻ Cái Tôi bên trong (có ý thức) chúng ta. Nếu chúng ta không có ý định về bất kỳ sự dâng hiến bản thân nào, thì cử chỉ trong nghi thức sẽ trở nên vô nghĩa.

Áp dụng điều này vào bàn tiệc tình yêu trên thiên quốc, vì thế, trong khi chia sẻ tại bàn tiệc Thánh Thể, chúng ta cần ý thức nuôi dưỡng những cảm xúc của sự hiệp nhất và tình yêu, của chia sẻ và tha thứ, của việc tìm kiếm một cộng đoàn huynh đệ. Vì Chúa Giê-su đã phán: “Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình.” (Mt 5,23-24). Thường thì chúng ta nhìn vào khía cạnh “tương đồng” hay hợp lý giữa những hành động và ý hướng của chúng ta, vì thế có nguy cơ lãng quên bàn tiệc Nước Trời. Luca không do dự khi viết: Một khi chủ nhà đã đứng dậy và khoá cửa lại, mà anh em còn đứng ở ngoài, bắt đầu gõ cửa và nói: “Thưa ngài, xin mở cho chúng tôi vào!”, thì ông sẽ bảo anh em: “Các anh đấy ư? Ta không biết các anh từ đâu đến!” Bấy giờ anh em mới nói: “Chúng tôi đã từng được ăn uống trước mặt ngài (ám chỉ đến Thánh Thể?), và ngài cũng đã từng giảng dạy trên các đường phố của chúng tôi”. Nhưng ông sẽ đáp với anh em: “Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khuất mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính!””. (Lc 13,25-28). Vì thế, chúng ta phải đảm bảo rằng ít nhất chúng ta “cảm nếm” được bàn tiệc thiên quốc này trong mỗi Thánh Lễ chúng ta cử hành, chỉ khi đó chúng ta mới cảm nghiệm được bàn tiệc Nước Trời thực sự.

Ngày 3/3

“Hãy sống nhờ Thánh Thể, như xưa dân Do Thái đã sống nhờ man-na”

Khi liên hệ Thánh Thể với “hình ảnh tiên trưng” trong Cựu Ước, man-na trong sa mạc, cha Eymard lôi kéo sự chú ý của chúng ta vào những khía cạnh quan trọng mà chúng ta có thể dễ dàng nhận ra được. Trước hết, man-na là “bánh từ trời” mà Thiên Chúa đã ban cho dân Người để chỉ cho họ biết rằng Người là “Đấng trung thành”, Đấng chẳng bao giờ làm ngược lại với lời hứa của mình. Người đã hứa với Ít-ra-en rằng Người sẽ là “Chúa của họ”, vì thế Người đã ở “với họ” trong mỗi thử thách mà họ phải đối diện. Khi ban thứ cần thiết này làm của ăn và vì trong sa mạc, không thứ gì có sẵn cả, nên Thiên Chúa đã tỏ ra rằng Người sẽ chăm lo cho tất cả những nhu cầu khác của họ, cụ thể là những nhu cầu tinh thần mà họ không bao giờ cảm nghiệm được trong suốt thời kỳ làm nô lệ bên Ai Cập.

Thứ đến, Người tỏ cho họ thấy “không có gì là không thể đối với Thiên Chúa!”. Người là Đấng quyền năng và “Nếu Thiên Chúa ở với chúng ta, ai có thể chống lại chúng ta’. Cơ bản, Thiên Chúa tìm cách gia tăng thêm lòng trông cậy vào cuộc sống cho dân Người, vì thực sự họ không thể thuộc về Người nếu họ không hoàn toàn tin cậy vào Người. Bên cạnh đó, Người chỉ ra rằng Người là Thiên Chúa hành động, không chỉ bằng lời nói và hành động của Người luôn luôn là hành động “cứu độ” được thực hiện nơi những ai hoàn toàn không được trợ giúp. Không nghi ngờ gì, Ít-ra-en đã phải mất một khoảng thời gian dài để có thể hiểu được tất cả những ưu phẩm của Thiên Chúa và khi họ có thể liên hệ những ưu phẩm ấy với các vị thần mà trước đây họ đã có kinh nghiệm bên Ai Cập, chắc chắn họ sẽ nhận ra rằng “Không có Chúa nào như Thiên Chúa của chúng ta, Người làm những gì Người muốn!” (Tv 115,3).

Điều này nhắm đến việc dâng hiến hoàn toàn của dân Ít-ra-en, nhưng thật không may, điều đó đã không xảy ra. Ít-ra-en được xem là “dân cứng cổ”, bướng bỉnh và ích kỷ. Dĩ nhiên, một số ít trong số họ đã phó thác hoàn toàn vào bàn tay Thiên Chúa, một tấm gương điển hình về lòng tin vô điều kiện chính là ngôn sứ Kha-ba-cúc (x. Kb 3,17-19). Vì thế, điều mà cha Eymard đề nghị chúng ta, đó là: khi chúng ta cử hành Thánh Thể, chúng ta tìm cách khám phá và cảm nghiệm tình yêu không thể tưởng tượng nổi của Chúa Cha dành cho mỗi người chúng ta, để đức tin của chúng ta cũng không bị lung lay đặc biệt là trong những lúc khó khăn. Ưu phẩm tuyệt vời nhất của Thiên Chúa mà chúng ta cần cảm nghiệm chính là “lòng trung tín của Người “Ta là Thiên  Chúa, không phải loài người” Người nhắc nhở chúng ta nhiều lần trong Kinh Thánh. “Dù cha mẹ có bỏ các ngươi, thì Ta sẽ không bỏ các ngươi đâu!” (Is 49,14-16).

Khi chúng ta nắm chắc được chân lý này và chân lý ấy được ghi khắc vào ý thức của chúng ta, thì không một cơn giông tố nào có thể làm lung lay chúng ta được. “Dù qua lũng âm u, con sợ gì nguy khốn vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm!” (Tv 23,4). Đây chính là lương thực phát xuất từ Thánh Thể; lương thực ấy sẽ gìn giữ chúng ta trong suốt cuộc hành trình qua sa mạc cuộc đời! Chúng ta không chỉ được bảo vệ, nhưng còn dám đương đầu với những nhiệm vụ khó khăn nhất, vì Người luôn luôn ở bên chúng ta!

Ngày 4/3

“Thánh Thể đem lại cho cộng đoàn Ki-tô hữu sức mạnh để thể hiện sự kính trọng và thực hành bác ái với tha nhân” [ ]

Cũng trong lời khẳng định này, chắc chắn cha Eymard không nói việc cử hành Thánh Thể đơn thuần chỉ là một nghi thức, nhưng là việc cử hành đầy ý nghĩa và bằng cả tâm hồn. Thực tế, điều này có ý nói rằng: trong phần Phụng vụ Lời Chúa, chúng ta thực sự khám phá một vài ưu phẩm của Thiên Chúa thông qua những biến cố đã được thuật lại cho chúng ta. Nếu điều này xảy ra trong thực tế, việc loan báo đó không thể là một việc loan báo nóng vội; bên cạnh việc công bố những bản văn một cách rõ ràng và dễ hiểu, cộng đoàn cần có thời gian cần thiết để hấp thụ những điểm then chốt đã được nhắc đến. Hơn nữa, những điều này ít ra cũng cần được chia sẻ vì kết quả sẽ sâu sắc hơn và ảnh hưởng lâu dài hơn.

Khi đã nắm bắt được ít là một ưu phẩm của Thiên Chúa từ các bài đọc, bấy giờ chúng ta được khích lệ để dâng cuộc đời mình vào bàn tay của Thiên Chúa, Đấng giàu lòng xót thương. Chúng ta nhớ lại lời động viên của Ngài: “Hãy đến cùng Ta hỡi tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề…’ (Mt 11,28). Khi nhận ra tình yêu vô biên của Thiên Chúa dành cho chúng ta, chúng ta sẽ không còn sợ hãi để dâng cho Ngài những chỗ mờ tối của cuộc đời chúng ta, không còn lo sợ lời khiển trách và sự trừng phạt của Ngài, chúng ta sẽ chạy đến cùng Ngài như đến với một thầy thuốc tâm linh và kêu lên “Lạy Thầy! xin cho tôi được nhìn thấy…” (Mc 10,51-52). Và còn gì hơn nữa, giới răn mới mà Chúa Giê-su ban cho chúng ta sẽ không còn khó khăn nữa.

Khi đã cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa dành cho mỗi người chúng ta, chắc chắn chúng ta sẽ không rời bỏ và đối xử thậm tệ với những người hàng xóm của mình hay những thành viên trong gia đình mình. Kinh nghiệm về việc cử hành của chúng ta sẽ làm cho chúng ta tìm kiếm những cơ hội để chia sẻ tình yêu của Thiên Chúa với tất cả những ai chúng ta gặp gỡ, vì thế sẽ làm cho cuộc đời của chúng ta trong “cộng đoàn” thực sự là một cuộc đời Ki-tô hữu, nơi mà tất cả mọi người đều cùng một lòng một ý, không một ai coi bất kỳ cái gì mình có là của riêng (Cv 4,32-35). Điều này không có nghĩa là sẽ không có một Khanania hay một Xaphira ở giữa chúng ta, nhưng đây sẽ là ngoại lệ chứ không phải là quy luật.

Không nghi ngờ gì, trong một cộng đoàn như thế, nhân đức căn bản sẽ là một sự kính trọng chân thành dành cho tất cả những ai là con cái của cùng một Cha. Đối với họ, Chúa Giê-su cũng đã chịu chết và luôn luôn hiện diện nơi Bí Tích Tình Yêu. Chúng ta cũng sẽ nhận ra rằng khi Tình Yêu được chia sẻ, hơn là bị giảm thiểu đi, nó sẽ gia tăng và sẽ trở nên vững mạnh, mạnh hơn cả sự chết! khi nhìn lại hiện trạng tại nhiều nơi trên thế giới, chúng ta sẽ thấy vô số những tấm gương (đôi lúc cả những người không đi theo Đức Ki-tô) đã sống một cuộc đời hy sinh bản thân mình. Thần Khí như ngọn gió thổi đến những nơi Người muốn, để đụng chạm đến những tâm hồn của tất cả những ai mở lòng ra đón nhận. Nhưng chẳng lẽ Người lại không hoạt động một cách mạnh mẽ hơn nơi những con người ý thức mình như những công cụ vô vị lợi? Trong và qua họ, Người sẽ loan truyền ngọn lửa Tình Yêu của Người đến khắp cùng bờ cõi của thế gian trong một thời gian ngắn!

Ngày 5/3

“Có những nhân đức sẽ triển nở vào hơi thở cuối cùng của chúng ta. Hãy luôn bước đi trong sự vâng phục và niềm trông cậy, và bạn sẽ đạt đến đích điểm trên trời.” [ ]

Ở đây, cha Eymard nói ngược lại với kinh nghiệm của chính cha vì một thực tế rành rành là: sau khi trở về từ Rô-ma với một câu trả lời rất bất lợi cho đề nghị biến Phòng Tiệc Thánh thành một cộng đoàn của Dòng Thánh Thể, thì cha đã trở thành một con người khác hẳn. Cha trở về với một sự thất bại dầu rằng mục đích của cha thì đáng được lưu tâm; thế nhưng cha đã nhận thức sâu xa về Phòng Tiệc Ly Nội Tâm và quy hướng về những tài sản cũng như kho tàng vĩ đại của mình là chính Đức Giê-su, Đấng đang cư ngụ trong cung lòng của cha. Rõ ràng, như một kết quả của việc nhận ra sự hiện diện của Đức Ki-tô, cha đã phát triển nhiều nhân đức vốn vượt quá khả năng của cha vào thời trẻ, cụ thể là quà tặng dâng hiến chính mình cho Chúa.

Tuy nhiên, cha đã không cần mất hơn ba năm để có thể cảm nhận được ân huệ vĩ đại này cũng như nhận ra những hiệu quả phi thường của đặc ân có sức biến đổi này! Điều đó như thể là cha đã nhận được ân huệ này vào lúc hơi thở cuối cùng. Nhận xét của cha có thể hiểu được một cách dễ dàng vì khi còn trẻ, người ta có dồi dào năng lực và sức khỏe, những kỹ năng cần thiết cũng như những kỹ năng khác để cậy dựa vào. Điều đó không có nghĩa là người ta không thực hành những nhân đức này vào thời trai trẻ; thế nhưng chiều sâu và cường độ của sự dâng hiến chỉ được cần đến khi người ta đã trưởng thành và học được từ những kinh nghiệm xương máu để nhận ra rằng: điều mà Chúa giành được ngang qua cuộc đời chúng ta thì quan trọng hơn điều mà chính chúng ta có thể hoàn tất.

Cha Eymard cũng có thể nhận ra rằng: phương tiện để đạt đến sự nhận thức sâu sắc này chính là một con đường có chọn lọc và rõ ràng của việc vâng phục Thiên Chúa mà qua đó người ta không lý luận hay ngập ngừng, nhưng biết dâng hiến hoàn toàn và ngay lập tức. Sự vâng phục như thế chỉ có thể là kết quả của một sự trông cậy vững vàng rằng mọi thứ người ta được đề nghị làm thì thực sự là những điều tốt nhất. Phép lạ xảy ra ở đây, đó là: một người nào đó nhận ra điều này đang xảy ra một cách tự phát mà không cần bất kỳ một tiến trình lý luận lâu dài. Điều này cũng giống như việc đạt đến cốt lõi của chân lý bằng trực giác. Người ta biết rằng điều đó hoàn toàn không sai lầm, nhưng không thể giải thích cặn kẽ để người ta đi đến chỗ nắm bắt được vấn đề!

Trong khi cách làm này có thể được chấp nhận trong những hoạt động hằng ngày, khi nó đạt đến cùng đích của chúng ta, cùng đích của cuộc đời chúng ta là hiệp thông hoàn toàn với Chúa Cha, thì dường như điều này lại có thể là một công việc mạo hiểm! Người ta sẽ bỏ lỡ danh vọng, và đánh mất lợi lộc vật chất trong cuộc sống? Đó sẽ là một thảm họa. Thế nhưng, khi bước đi trên con đường của sự tín thác và vâng phục trọn vẹn, người ta biết được một cách không sai lầm rằng đây chính là con đường chính lộ, chỉ có tình yêu mới có thể đảm bảo cho con người về sự cậy trông đáng giá, trong khi đó dường như điều này có thể là một mầu nhiệm đối với những người chưa đạt đến những chiều sâu này, thì những con người đã chọn lựa bước theo con đường ấy hiểu rằng mình không cần phải lo sợ gì cả. Không thể nói rằng một sự đảm bảo chắc chắn như vậy là kết quả của nhiều năm nỗ lực miệt mài để đáp lại tiếng Chúa mời gọi bằng cả tâm hồn, mà không cần cắt gọt những ngóc ngách hay đòi hỏi nhượng bộ đối với Cái Tôi. ‘Chúa thành tín trong mọi lời Chúa phán, đầy yêu thương trong mọi việc Ngài làm’ (Tv 144,13). Ngài không bao giờ làm ngược lại với lời Ngài, nhưng sẽ ban thưởng cho chúng ta nhiều hơn những gì chúng ta đáng hưởng.

Ngày 6/3

“Việc cầu nguyện trước Thánh Thể quy hướng trực tiếp đến Thánh Tâm Chúa, giống như một mũi tên lửa vậy.” [ ]

Điều mà cha Eymard muốn nói ở đây, đó là: Việc cầu nguyện trước Thánh Thể là một hình thức cầu nguyện nguyện mà chính cha đã thực hành và dạy người khác thực hành một cách hăng say, nhìn chung việc cầu nguyện này được xem như ‘Lời nguyện Bốn Bước của Hy tế’. Cha Eymard đã giải thích Thánh Lễ qua bốn mục tiêu: Thờ lạy, Thống hối, Tạ ơn và Cầu xin (ACTS). Cha thường đề nghị rằng: chúng ta nên giữ bốn ‘mục đích’ này trong tâm trí khi cử hành Thánh Thể cũng như dùng chúng cho việc Chầu Thánh Thể, phân chia một phần tư thời gian cho mỗi ý hướng ấy. Bốn mục đích này quá đơn giản và cơ bản đến nỗi ngay cả một người mới bắt đầu cũng sẽ cảm thấy dễ dàng để cầu nguyện và cử hành Thánh Thể theo phương pháp này. Bên cạnh đó, sự đơn giản của phương pháp này khuyến khích ‘người tôn thờ’ đặt tâm hồn mình vào đó, vì thế làm cho việc cầu nguyện mang tính riêng tư và hiệu quả. Không nghi ngờ gì khi cha Eymard đề nghị rằng việc cầu nguyện như vậy sẽ quy hướng trực tiếp đến Thánh Tâm Chúa, tựa như một mũi tên lửa vậy!

Đi xa hơn nữa, chúng ta có thể nói rằng toàn bộ mục đích của việc cầu nguyện không chỉ là ngợi khen và thờ lạy, tạ ơn và khẩn nài Chúa Cha, nhưng suy cho cùng đó là để biến đổi chúng ta từ ‘những người cầu nguyện’ thành những ‘con người của cầu nguyện’. Sự khác biệt giữa hai hình thức ấy thật đáng chú ý. Người cầu nguyện đến cầu nguyện nhiều lần trong ngày, nhìn chung là cầu nguyện theo công thức sẵn có hơn là cầu nguyện như một bổn phận hay nghĩa vụ. Vả lại, việc cầu nguyện như thế ít khi đụng chạm tới đời sống của người cầu nguyện. Không nghi ngờ gì, đã có những lần trong lịch sử của Hội dòng, đây là việc mà tất cả các tu sĩ Thánh Thể cho là phải làm khi họ dành thời giờ cầu nguyện trước Thánh Thể. Thế nhưng, khi biết được mục đích của việc cầu nguyện là gì, chúng ta nên và được khuyến khích là để cho việc cầu nguyện của chúng ta biến đổi chúng ta, cho phép chúng ta hấp thụ những nhân đức cơ bản đằng sau mỗi ‘mục đích’. Vì thế, thời gian chúng ta dành để tôn thờ Chúa sẽ biến chúng ta thành những người nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa nơi mỗi người và mỗi biến cố, cũng như mời gọi chúng ta đón nhận thánh ý Ngài. Vì vậy, chúng ta trở thành những con người thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật bên cạnh việc thờ phượng Ngài trong những thời gian nhất định trong ngày!

Việc tạ ơn Thiên Chúa trong suốt Thánh Lễ và cầu nguyện sẽ biến đổi chúng ta thành những con người có lòng biết ơn, sẵn sàng bày tỏ lòng biết ơn đối với mỗi đặc ân/ân huệ nhỏ bé đã nhận được trong suốt ngày sống, thậm chí khi người cho chỉ đơn thuần là thực thi nghĩa vụ của mình. Vì vậy, chúng ta có thể bày tỏ lòng biết ơn một cách tự phát đối với một tài xế taxi hay nhân viên bán hàng, một đồng nghiệp, một người giúp việc nhà hay thậm chí là một đứa trẻ. Cũng có thể nói rằng tinh thần thống hối sẽ soi dẫn cho chúng ta biết cách cải thiện những lời đáp trả của mình trong mỗi tình huống, làm cho chúng ngày càng giống với Đức Ki-tô hơn và hữu ích hơn. Tâm tình thống hối sẽ làm cho chúng ta nhìn mọi sự việc xảy ra trên bước đường của mình như một ân huệ Chúa Cha ban cho, trong đó có cả những biến cố đau khổ và tang thương. Lời khẩn nài của chúng ta cũng sẽ trở nên phổ quát và trải rộng hơn, vì chúng ta liên kết việc cầu nguyện của mình với lời cầu nguyện của Chúa Giê-su, Vị Mục Tử nhân lành, và cầu xin cho những nhu cầu của Nước Trời lan rộng khắp trần gian. Vì thế, việc cầu nguyện của chúng ta dựa trên Thánh Lễ không chỉ đụng chạm đến Trái Tim Chúa, nhưng còn giúp chúng ta đến gần với Ngài trong suốt ngày sống.

 

Ngày 7/3

“Thiên Chúa là vị khách của con người nơi Bí tích Thánh Thể.” [ ]

Lời khẳng định này của cha Eymard rõ ràng gợi lên trong tâm trí biến cố đã được đề cập đến trong sách Sáng Thế 18,1-15, trong đó chúng ta biết khi tiếp đón và dọn bữa ăn cho ba vị khách trong lều của mình, ông Áp-ra-ham thực sự đã tiếp đón Thiên Chúa, Đấng đến với ông trong sự cải trang. Thiên Chúa thực sự là vị khách của ông Áp-ra-ham trong bữa ăn đó. Như chúng ta thấy trong biến cố lịch sử này, Thiên Chúa viếng thăm dân Người để chúc phúc cho họ theo những cách thức đặc biệt. Ở đây, lời hứa với Áp-ra-ham về việc ông sẽ có một người con trai đã được nhắc lại. Đây là điều dường như khó có thể tưởng tượng nổi đến nỗi Sara thực sự đã bật cười với ý tưởng đó! Đường lối của Thiên Chúa không chỉ kỳ lạ mà còn là đường lối vượt trên khả năng nắm bắt của con người.

Trong Thánh Lễ, mặc dù chính Thiên Chúa là Đấng mời gọi chúng ta đến dự Bàn tiệc của Ngài (Bàn tiệc Lời Chúa và Bàn tiệc Thánh Thể), thế nhưng trong thực tế thì chính Thiên Chúa là Đấng đến với chúng ta như một vị khách. Ngài biết rằng nếu để cho chúng ta tự ý xoay sở lấy, chúng ta sẽ không bao giờ đủ xứng đáng để đón tiếp Ngài vào cuộc đời chúng ta, vì thế Ngài đã chủ động đi bước trước để đến với chúng ta. Tất cả những gì Ngài đòi hỏi chúng ta chính là một sự rộng mở để đón rước Ngài, lắng nghe Lời Ngài khi Ngài nói, không chỉ lắng nghe âm thanh và câu cú, nhưng còn ý nghĩa bên trong của những lời Ngài phán. Mặc dù điều này nghe có vẻ dễ dàng và đơn giản, thế nhưng chúng ta phải luôn luôn nhớ rằng đường lối của Thiên Chúa không phải đường lối của chúng ta ‘trời cao hơn đất bao nhiêu thì tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng của các ngươi bấy nhiêu’ Đức Chúa phán (Is 55,8-10). Cũng vậy, trong phần thứ hai của Thánh Lễ, cũng chính Thiên Chúa ấy đến với chúng ta dưới hình bánh bị bẻ ra để được chia sẻ và được ăn. Cũng vậy, chú ý đến sự hiện diện của Ngài giữa chúng ta là điều cốt yếu, vì cách thức chúng ta đón rước Ngài sẽ làm nên mọi sự khác biệt trong thế giới.

Câu chuyện trong Tin Mừng soi sáng cho phần thứ nhất của Thánh Lễ chính là câu chuyện cô Maria ngồi dưới chân Chúa Giê-su, lắng nghe Ngài, trong khi cô Mát-ta tất bật với “nhiều chuyện!” (Lc 10,38-42). Điều mà cô Maria đã chọn, Chúa Giê-su đoan chắc với cô rằng, sẽ không bị lấy mất. Kế đến, có lẽ câu chuyện hay được nhắc đến nhất trong Tin Mừng chính là câu chuyện người đàn bà tội lỗi đến và sụp lạy dưới chân Chúa Giê-su trong suốt bữa ăn, bà đã rơi nước mắt xuống chân Ngài và lấy tóc mà lau chân Ngài, xức dầu quý lên chân Ngài. Sau này, Chúa Giê-su nói: “tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều.” (Lc 7,36-50). Khi Chúa Giê-su đến với một ai đó như là một vị khách, Ngài để lại biết bao nhiêu ơn lành, biến đổi con người ấy. Rõ ràng điều này được tìm thấy trong câu chuyện của ông Da-kêu (Lc 19,1-10). Khi vào nhà của Da-kêu như vị khách của ông, Chúa Giê-su đã trả lại cuộc sống cho ông bằng việc đem lại cho ông một mục đích mới và một cuộc đời mới, và một hương vị mới để sống theo cách khác!

Thật là những trách nhiệm đang đợi chờ chúng ta khi chúng ta thực sự đón rước Chúa Giê-su vào cuộc đời mình như vị khách của chúng ta khởi đầu với Thánh Lễ, và tiếp tục nhân rộng lời mời gọi ấy trong suốt cả ngày! Nếu chúng ta để Ngài “ở giữa chúng ta” và đón tiếp Ngài qua việc lắng nghe tiếng của Ngài trong suốt ngày sống, thì đó chẳng phải là Nước Trời đang hiện diện trên trần gian này hay sao?!

Ngày 8/3

“Không rao giảng một điều gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô (Ngôi Lời) và chỉ mình Đức Ki-tô nơi Bí Tích Thánh Thể.” [Khi cầm Mặt Nhật trong cuộc Cung nghinh Thánh Thể tại nhà thờ thánh Phao-lô, vào ngày lễ Mình Máu Chúa Ki-tô, ngày 25/5/1845]

Đây là giải pháp mà cha Eymard đề ra cho chính mình khi cử hành lễ Mình Máu Chúa Ki-tô hết sức long trọng. Trong ngày lễ ấy, cha được vinh dự cầm Mặt Nhật trong suốt cuộc cung nghinh Thánh Thể tại nhà thờ thánh Phao-lô. Chính trong cuộc cung nghinh ấy, cha bị xúc động mạnh bởi tâm điểm tình yêu trong đời sống Ki-tô hữu mà cụ thể hơn đó là tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi con người Đức Giê-su, và được tóm gọn cũng như lưu giữ nơi Thánh Thể. Cha dường như nhận ra rằng việc nói với người ta về những chủ đề khác sẽ không đem lại ích lợi cho bằng khi nói về Đức Giê-su, hiện thân của tình yêu Thiên Chúa, Đấng hiện diện một cách hữu hình và khả giác qua biến cố Nhập Thể, và ở gần chúng ta nơi Bí Tích Thánh Thể.

Một khía cạnh khác được chú ý ở đây, đó là: vào thời đại của cha, rất ít nhà giảng thuyết nói về tình yêu Thiên Chúa, và Bí Tích Thánh Thể là bí tích bị chối bỏ. Ước muốn đem Thánh Thể đến với nhiều người sẽ có ý nghĩa lớn lao và là sự thúc đẩy mạnh mẽ để chống lại nền tảng này. Đối với cha Eymard, Thánh Thể sẽ hình thành những nét tinh tế khác vào những năm kế tiếp trong cuộc đời cha. Thánh Thể được xem như dấu chỉ cụ thể của việc trao ban chính mình cho người khác, người ta đọc thấy Thánh Thể như một biểu tượng của việc trao ban hoàn toàn được thực hiện bằng tình yêu, bằng sự khao khát nồng cháy về ơn cứu độ dành cho mọi người, bằng sự nhiệt tình hăng hái để làm cho tình yêu Thiên Chúa hiện diện nơi mọi người, nhưng cách đặc biệt là cho những người nghèo khổ và những người bị áp bức. Đỉnh cao của sự thăng tiến này, đó là: mong ước trở nên giống Đức Giê-su, điều mà chính Đức Giê-su đã làm đối với Chúa Cha là trở nên khí cụ sẵn sàng và mềm mỏng trong tay Thiên Chúa, để đem ơn cứu độ đến cho mọi người trong thời đại của cha.

Như đã được thể hiện ra trong suốt cuộc đời của cha Eymard, chúng ta thấy rằng quan điểm này không phải là ý nghĩ thoáng qua hay sở thích nhất thời. Đó chính là một ý tưởng sâu sắc đã làm thay đổi toàn bộ nhãn quan của cha, dù diễn ra chậm rãi và từng phần một. Cha đã ghi chú lại trong tài liệu cá nhân của mình vào ngày 25 tháng 5 năm 1845 : “…Tôi đã tìm được ích lợi to lớn từ việc đó (cầm Thánh Thể trong cuộc cung nghinh). Tâm hồn tôi đã được khai mở bởi niềm tin và tình yêu của Đức Giê-su nơi Bí tích Cực thánh của Ngài… Tôi muốn đem đến cho thế giới sự hiểu biết và tình yêu của Chúa chúng ta. Tôi đã cầu xin Chúa chúng ta ban cho tinh thần trong những lá thư của thánh Phao-lô, một người vô cùng yêu mến Đức Giê-su Ki-tô.”

Trước đây, tình yêu Thiên Chúa đã biến đổi cha thành một mẫu người nhiệt thành khi cha bắt đầu sứ vụ linh mục của mình, thì nay tình yêu ấy đã trở nên cụ thể và rõ ràng nơi hiến lễ Bản vị của Đức Ki-tô ngang qua Thánh Thể, để đến với tất cả những ai đón nhận Ngài. Cách cha đưa ra giải pháp này có thể được tìm thấy từ một trong những bài giảng sau này của cha: “tin vào tình yêu là tất cả! tin vào chân lý thôi thì chưa đủ: người ta phải tin vào tình yêu. Tình yêu, đó là điều mà Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta biểu lộ nơi Bí Tích Thánh Thể. Chính nhờ việc sống đức tin mà chúng ta trở về với tình yêu của Đức Ki-tô dành cho chúng ta…” Sau này, cha sẽ trở lại những cách thức khác qua đó chúng ta có thể bày tỏ lòng biết ơn của chúng ta với tình yêu này của Đức Giê-su.

 

Ngày 9/3

“Đừng để cho tư tưởng của Thiên Chúa vẫn chỉ là trừu tượng. Hãy luôn luôn đặt tâm hồn con vào đó.” [Gửi cho một người con thiêng liêng]

Qua lời khuyên này, chúng ta thấy được sự khôn ngoan sáng suốt của cha Eymard trong việc hướng dẫn người khác về đời sống thiêng liêng của họ. Dường như, cha rất am hiểu những kế hoạch vĩ đại và khổng lồ mà người ta thường gặp khi cầu nguyện, nhưng những kế hoạch này đã mau chóng bị quên lãng hay chỉ được thực hiện một cách miễn cưỡng bên ngoài việc cầu nguyện. Cha cũng chứng tỏ rằng giải pháp cho việc cầu nguyện thiếu hiệu quả thật là đơn giản, nghĩa là chúng ta cần cảm nhận được những gì chúng ta cầu nguyện. Cầu nguyện không phải chỉ là vấn đề của từ ngữ, đặc biệt khi chúng ta phải trích dẫn những lời nguyện như khi cầu nguyện với Kinh Phụng vụ (Kinh nguyện của Hội Thánh). Thậm chí những kinh nguyện này có thể được chuyển thành lời nguyện cá nhân nếu chúng ta gạt bỏ sự chia trí để ‘hướng lòng mình về những gì chúng ta cầu nguyện!’ Lời khuyên này của cha Eymard không hoàn toàn nguyên văn. Trở lại thời Cựu Ước, dân Do Thái đã cầu nguyện với kinh berakkah, một kinh nguyện ngợi khen được đọc một trăm lần mỗi ngày! Rõ ràng, nếu một ai đó cố gắng ngợi khen Thiên Chúa một trăm lần một ngày, thì sự chú ý của người ấy rõ ràng là sẽ chuyển từ việc ngợi khen và lý do để ngợi khen sang số lần người ấy đã cầu nguyện bằng kinh nguyện này và nhiều điều khác đã bị bỏ đi! Vì thế, các Rabbi đã khuyên những người Do Thái sùng đạo thực hành ‘kawanna halleb’, nghệ thuật của ‘việc hướng lòng mình vào những gì mình cầu nguyện!’

Khi người ta hướng lòng mình vào lời cầu nguyện, chắc chắn người ta biết mình đang nói gì. Cầu nguyện không thể chỉ dừng lại mãi ở cấp độ của việc trích dẫn. Người ta cần dừng lại và nhớ lại những tình cảnh gợi lên việc ngợi khen Thiên Chúa, người ấy cũng cần suy xét một cách thấu đáo những gì người ấy đã cảm nghiệm được, chỉ khi đó việc diễn tả lời ngợi khen của người ấy mới chân thành. Đây chính xác là điều mà cha Eymard khuyên nhủ, mở rộng chủ đề đến mọi ý tưởng mà chúng ta có về Thiên Chúa. Chúng ta dễ dàng hài lòng với những điều phổ quát; thế nhưng những điều này sẽ mau chóng xóa sạch dấu vết nơi tâm trí và tâm hồn chúng ta. Nhưng khi chúng ta suy niệm và nhìn vào sự diễn tả của tình yêu Thiên Chúa từ nhiều góc độ khác nhau cũng như trong những trường hợp cụ thể, thì những cơ hội này sẽ ở lại trong tâm trí của chúng ta lâu hơn và gợi lên những hình thức cầu nguyện riêng tư hơn.

Trong cách tiếp cận này, cha Eymard làm theo động lực của tiến trình ‘yêu đương’ tự nhiên. Người ta không thể yêu thương nhau nếu họ không ý thức dành thời gian cho người khác và nỗ lực để đánh giá về bản tính đáng yêu của người khác. Họ càng thường xuyên và càng sáng tỏ trong việc nhận ra tính cách đáng yêu của người khác, thì những cơ hội lớn dành cho mối tương quan của họ sẽ càng sâu sắc và thân mật. Ở đây, động lực của ‘việc từ bỏ chính mình’ trong tiến trình này là quan trọng và cần thiết, bằng không chúng ta sẽ chỉ kết thúc với việc yêu thương chính mình và lợi dụng người khác để đem lại ích lợi cho bản thân mình. Mặc dù chúng ta có thể đánh lừa chính mình khi nghĩ rằng chúng ta thực sự yêu thương người khác, tuy nhiên những dấu hiệu mách lẻo sẽ giúp chúng ta nhận ra sự thật của mối tương quan của chúng ta: nóng giận, ghen tương, so đo tính toán và những điều khác đại loại như thế!

Ngày 10/3

“Hãy luôn luôn vui sướng để lặp lại: ‘Chúa thật tốt lành! Chỉ mình Ngài là Đấng Tốt Lành.” 

Chúng ta có thể đoan chắc rằng đối với cha Eymard, đây không phải chỉ là vấn đề lặp lại câu nói này, nhưng trên hết đây chính là việc cảm nghiệm chân lý của câu nói ấy và sau đó là loan báo lời nói ấy để bất cứ ai quan tâm đến cũng đều tìm được lợi ích. Như một tấm màn sau sân khấu, thật là hữu ích khi nhắc lại lời diễn tả của thánh Phao-lô về cùng một chân lý ấy: “Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh ích cho những ai mến yêu Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ý Người định” (Rm 8,28). Những bước mà thánh Phao-lô đề ra ở đây dường như là quan trọng: trước hết, chúng ta lưu ý rằng Thiên Chúa có một kế hoạch, một mục đích không chỉ dành cho mỗi người, nhưng là cho toàn thể Vũ trụ (Ep 2,10 – ‘Thật thế, chúng ta là tác phẩm của Thiên Chúa, chúng ta được dựng nên trong Ðức Kitô Giêsu, để sống mà thực hiện công trình tốt đẹp Thiên Chúa đã chuẩn bị cho chúng ta…’ Ep 2,15 – Người đã hủy bỏ Luật cũ gồm các điều răn và giới luật. Như vậy, khi thiết lập hòa bình, Người đã tác tạo đôi bên thành một người mới duy nhất nơi chính bản thân Người…’ Ep 2,19- Vậy anh em không còn phải là người xa lạ hay người tạm trú, nhưng là người đồng hương với các thánh, và là người nhà của Thiên Chúa…’)

Đây chính là ơn gọi của chúng ta, chúng ta sống và cùng nhau làm việc như một đại gia đình, là người nhà của Thiên Chúa. Và khi chúng ta nỗ lực hết mình trong khuôn khổ này, thì mọi sự sẽ sinh ích lợi cho chúng ta! Người ta phải cảm nghiệm điều này để nhận ra sự thật như thế nào… Khi đã chứng kiến tận mắt cũng như lặp đi lặp lại nhiều lần và kiên định, thì làm sao chúng ta lại không thường xuyên thốt lên rằng: ‘Chúa thật tốt lành!’ Cũng thế, phải chăng chúng ta sẽ không muốn chia sẻ kinh nghiệm của mình với người khác để ngày càng có nhiều người cùng tham gia vào kế hoạch của Thiên Chúa và cộng tác để làm cho thế giới này trở thành một nơi tốt đẹp đáng sống hơn? Mặc dù chúng ta không thể là những kẻ ngây ngô và duy tâm. Chắc chắn nhiều người xung quanh chúng ta sẽ hành động theo chiều hướng ngược lại: để chia rẽ và kích động người khác thù ghét và tiêu diệt lẫn nhau.

Thế nhưng, Chúa Giê-su, vị sứ giả được Chúa Cha sai đến, đã đảm bảo cho chúng ta rằng Người đã chiến thắng mọi thế lực sự dữ, tội lỗi và sau cùng là sự chết! (Ga 16,33). Chiến thắng của Người là điều chắc chắn, mặc dù không tỏ lộ một cách rõ ràng ngay bây giờ. “Và chiến thắng của chúng ta đối với thế gian, đó là lòng tin của chúng ta” (1 Ga 5,4). Vì thế, tất cả những gì chúng ta cần để cảm nghiệm được lòng nhân từ của Thiên Chúa chính là đặt mình vào trong kế hoạch của Ngài (hiệp nhất, bình an, thông hiệp…) và gọt dũa chính mình, Ngài sẽ lo liệu mọi sự. Thậm chí khi những nỗ lực của chúng ta dường như là không sinh hoa trái, thì đức tin sẽ gìn giữ chúng ta trong việc loan báo Nước Thiên Chúa.

Ngày nay với việc sử dụng mạng lưới Internet, thật là ngạc nhiên vì nhiều câu chuyện chúng ta có thể đọc được về những con người từ bỏ con đường của mình để làm việc tốt một cách đơn giản và âm thầm. Cách đây không lâu, một nhóm các tình nguyện viên khoảng 50000 người đã cùng nhau dọn dẹp những khu rừng ở Estonia vào tháng 5 năm 2008 chỉ trong vòng 5 tiếng đồng hồ! Không nghi ngờ gì vì đây là kết quả của một hành động tràn đầy đức tin của một số người nhiệt tâm đã tin vào lòng tốt của những người xung quanh mình, và trên hết là nơi lòng tốt của chính họ; điều mà họ đạt được quả thật là một kỳ công mà nhiều người khác không thể làm! Chúa thật tốt lành! Việc thường xuyên lặp lại lời này sẽ giúp chúng ta ngày càng nhận ra những tấm gương của lòng nhân từ Chúa xung quanh chúng ta.

Ngày 11/3

“Chúng ta phải bày tỏ niềm tin của mình vào cuộc thử luyện của đức tin.” [ ]

Bất cứ ai đã phát hiện ra điểm chính yếu trong mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa đều sẽ nhận ra rằng: trong một thời gian ngắn, một tương quan sâu đậm với Thiên Chúa không thể có được nếu không có đức tin. Chính Thiên Chúa phán bảo chúng ta: ‘Đường lối của Ta không phải là đường lối của các ngươi; trời cao hơn đất chừng nào, thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi’ (Is 55,8-9). Vì thế, chúng ta, những con người, sẽ không bao giờ có thể hiểu được hoàn toàn đường lối của Thiên Chúa. Thực ra, dường như những đường lối này diễn ra theo chiều hướng đối nghịch, chúng ta cảm thấy rằng chúng ta thực sự đang trên con đường đánh mất mọi thứ. Đó là lúc chúng ta cần kiên vững trong đức tin để xác tín rằng: Thiên Chúa luôn luôn muốn điều tốt nhất cho chúng ta.

Thế nhưng, ngay cả khi chúng ta đối diện với một tình huống cụ thể trong đức tin, cho dù đức tin có nhỏ bé đến đâu đi chăng nữa, thì chúng ta cũng sẽ bị thử thách đến cùng. Kinh Thánh đầy rẫy những ví dụ như vậy, trong những ví dụ ấy, chúng ta chỉ chọn lấy một ví dụ mà thôi. Tại tiệc cưới Cana, chúng ta thấy Đức Maria đã trình bày vấn đề hết rượu với Đức Giê-su, Mẹ tin rằng Ngài có thể và sẽ làm một điều gì đó. Tất cả những gì Mẹ nhận được trong lời đáp trả chỉ là một sự quở trách cho thấy Mẹ bận tâm quá nhiều. Tràn đầy niềm tin, Mẹ đã hành động một cách rất tích cực khi nói với các gia nhân ‘Người bảo gì các anh cứ việc làm theo!’ (Ga 2,1-11). Mẹ đã phải nhận một cú sốc trong cuộc đời mình khi Đức Giê-su nói với các gia nhân đổ đầy nước vào các chum đá (được dùng vào việc thanh tẩy, chứ không phải để chứa rượu). Nhu cầu lúc ấy là rượu, mà ở đây Đức Giê-su lại nói với họ đổ đầy nước vào các chum và điều đó cũng làm sai đi công dụng của các vật chứa! Tuy nhiên, Mẹ đã kiên vững trong đức tin mạnh mẽ và lòng trông cậy của Mẹ vào Đức Giê-su đã được tưởng thưởng khi ông quản tiệc quả quyết rằng cái Đức Giê-su đem đến cho họ không phải là nước, nhưng là rượu ngon, rượu ngon nhất được giữ lại cho đến giờ phút cuối.

Mỗi dấu lạ Đức Giê-su thực hiện đều liên hệ đến một sự thử thách về niềm tin của người đón nhận. Khi nhận ra điều này từ chính những tương quan của mình với Thiên Chúa, cha Eymard khuyên những người con linh hướng của mình hãy làm như vậy. Đây là cách duy nhất mà người ta có thể nhận được những ơn lành cao cả từ Thiên Chúa cũng như trong mọi tình huống có thể xảy ra. Tuy nhiên, cần nói thêm rằng đức tin của chúng ta càng vững mạnh, thì những thử thách mà chúng ta phải đương đầu sẽ càng lớn. Có lẽ ý tưởng này được diễn tả trong sách Kha-ba-cúc: ‘Thật thế, cây vả không còn đâm bông nữa, cả vườn nho không được trái nào. Quả ô-liu, đợi hoài không thấy, ruộng đồng chẳng đem lại gì ăn. Bầy chiên dê biến mất khỏi ràn, ngó vào chuồng, bò bê hết sạch. Nhưng phần tôi, tôi nhảy mừng vì Ðức Chúa, hỷ hoan vì Thiên Chúa, Ðấng cứu độ tôi. Ðức Chúa là Chúa Thượng, làm cho tôi mạnh sức, cho đôi chân này lanh lẹ tựa chân nai, và dẫn tôi đi trên đỉnh núi cao vời’ (Kb 3,17-19).

Phúc thay ai có thể chạm đến đỉnh cao của niềm trông cậy vào tình yêu Thiên Chúa dành cho những người được Ngài tuyển chọn, dù phải đương đầu với những thảm họa! Tất cả những gì người ta cần làm để lượng định những tầm cao này, đó là: tận dụng từng cơ hội Chúa ban mỗi ngày để hiểu rằng mỗi thử thách sẽ được xếp theo sức chịu đựng của mỗi người. Chúa sẽ không nghỉ ngơi cho tới khi Ngài đưa những người được Ngài tuyển chọn đến đỉnh cao nhất của tình yêu Thiên Chúa!

Ngày 12/3

“Khó nghèo là linh hồn của mọi nền tảng đích thực phát xuất từ Trời” [ ]

Tương tự như bài suy niệm trước, ở đây chúng ta tìm thấy một kinh nghiệm quý báu khác trong việc linh hướng, bắt nguồn từ chính kinh nghiệm cá nhân của cha Eymard. Khi đọc toàn bộ Kinh Thánh, chúng ta thấy rằng Thiên Chúa có một cách thức đặc biệt trong việc chọn lựa những ai Người muốn để trở thành những cộng tác viên trong công trình cứu chuộc. Thay vì chọn lựa những con người có phẩm chất tốt, những con người được kính trọng dưới cái nhìn của người đương thời, thì hầu như “Những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để hủy diệt những gì hiện có, hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người” (1Cr 1,27-29).

Lý do để giải thích điều này dường như là quá rõ. Tất cả chúng ta nhận thức rằng nhìn chung thử thách lớn nhất mà chúng ta đặt ra trên con đường của Thiên Chúa khi cộng tác với Ngài chính là Cái Tôi của chúng ta. Một người bị Cái Tôi thống trị chắc chắn sẽ không chăm chú lắng nghe những kế hoạch của Thiên Chúa và không cộng tác hết mình. Người ấy bị buộc phải xen một điều gì đó trong những chương trình của mình vào những việc mình làm, do đó làm hỏng những kế hoạch tuyệt vời của Thiên Chúa dành cho con cái của Ngài. Một tấm gương điển hình cho điều này chính là ngôn sứ Giô-na, người mà khi được kêu gọi đi loan báo ơn hoán cải cho dân thành Ni-ni-vê, đã lẩn trốn và tránh né Chúa. Sau này, khi bị ép buộc phải loan báo sứ điệp của Thiên Chúa, ông đã làm một cách miễn cưỡng. Và khi dân thành Ni-ni-vê đã ăn năn hối cải và nhận được ơn huệ tha thứ của Thiên Chúa, thì ông bắt đầu giận dỗi cho đến khi Thiên Chúa lại chỉ bảo ông qua hình ảnh cây thầu dầu.

Lời khuyên khôn ngoan nhất dành cho những ai ao ước được cộng tác với Thiên Chúa, đó là: chấp nhận những giới hạn của mình mà không che giấu, chỉ trích những giới hạn ấy trước người khác, hay cố gắng không để ý gì đến nó. Hơn nữa, một sự chấp nhận khiêm tốn là bước đầu tiên. Sau đó, chúng ta đặt chính mình, như một người vô dụng, vào bàn tay quyền năng của Thiên Chúa và để Ngài làm việc qua chúng ta. Ví dụ chợt nảy ra trong đầu chính là câu chuyện chàng thanh niên Đa-vít hiên ngang bước ra đối đầu với tên Go-li-át trong trận chiến. Chàng quát mắng lại tên Go-li-át đang mắng nhiếc chàng: “Mày mang gươm, mang giáo, cầm lao mà đến với tao. Còn tao, tao đến với mày nhân danh Ðức Chúa các đạo binh là Thiên Chúa các hàng ngũ Ít-ra-en mà mày thách thức. Ngay hôm nay Ðức Chúa sẽ nộp mày vào tay tao…” (1Sm 17,45-46). Và nhân danh Chúa, chàng đã giết tên Go-li-át bằng một hòn đá phóng ra từ dây ná!

Cha sở họ Ars thường nói: ‘Nếu Samson có thể giết 1000 tên Phi-li-tinh chỉ bằng một cái hàm lừa (Tl 15,15) thì phương chi Thiên Chúa lại không thể làm gì với một con lừa sao?!?’ Vì vậy, những giới hạn của chúng ta, vốn thuộc về cuộc sống của mọi người, sẽ không xảy ra trên con đường cộng tác với Thiên Chúa, chúng ta khiêm tốn chấp nhận nó và tận dụng nó! Thực ra, chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa dùng những giới hạn của chúng ta như những vật dụng có ích trong công trình cứu độ vĩ đại của Ngài!

Ngày 13/3

“Hãy luôn tiến bước trên con đường của lòng biết ơn và niềm vui phụng sự Thầy yêu dấu của chúng ta.” [ ]

Khi một ai đó cảm nhận một cách sâu sắc về sự nghèo khó bẩm sinh hay sự hư không của mình, thì người ấy sẽ nhìn mọi thứ mình có và mình làm như một ân huệ cao quý từ Thiên Chúa, được trao ban vì tình yêu và được lãnh nhận mà không đòi hỏi bất kỳ công trạng nào của chính họ. Thái độ này không những ám chỉ đến những ân huệ và tài năng tự nhiên mà còn đến tất cả mọi cảnh huống trong cuộc đời của người ấy: gia đình- nơi họ được sinh ra, những chi tiết về thời thanh niên, những cơ hội có được, bạn bè và những người thầy mà họ có trong cuộc đời cho đến từng chi tiết đã hình thành nên một phần trong sự trưởng thành của họ. Quả là ‘dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu’ (Lc 21,18), mỗi sợi tóc đã được đếm cả rồi vì Chúa Cha chăm lo cho chúng ta, chúng ta lại không thể nói rằng Thiên Chúa chăm lo từng chi tiết một cho cuộc sống của chúng ta, trang bị cho chúng ta để có thể thi hành sứ vụ mà Ngài đã trao phó cho chúng ta từ thưở đời đời.

Việc phụng sự Chúa đi ngược với nền tảng này sẽ không thể là một nhiệm vụ tràn ngập lòng biết ơn và niềm vui được. Chúng ta nhận ra đặc ân là: chính chúng ta được chọn lựa để cộng tác với Chúa, Ngài đã tuyển chọn chúng ta trong số hàng ngàn những ứng sinh khác, có lẽ được trang bị tốt hơn và quảng đại hơn chúng ta, đơn giản vì Ngài ‘thấy’ được tiềm năng nơi chúng ta, khi chúng ta chọn lựa để làm việc với Ngài như những người cộng sự. Và niềm vui của chúng ta phát xuất từ thực tế là không có gì vĩ đại hơn khi vị Thầy sẵn sàng phục vụ để chúng ta có thể cảm nghiệm được niềm vui này. Ngài không phải là ông chủ điều khiển đám nô lệ, đúng hơn Ngài là người hiểu biết nhất, tha thứ nhất, chấp nhận nhất, khuyến khích và đáng tán dương nhất trong tất cả các vị Thầy. Vì sự nâng đỡ nhẹ nhàng này, chúng ta tự nguyện dâng hiến cho Ngài vì Ngài đã hứa: “Và phàm ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì danh Thầy, thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống đời đời làm gia nghiệp” (Mt 19,29).

Ở đây, chúng ta lưu ý rằng lời hứa được gấp trăm dành cho chúng ta ngay khi chúng ta còn ở thế gian này; thêm vào đó sẽ có sự sống đời đời đi kèm theo. Nếu chúng ta cảm thấy không thỏa mãn hay không bằng lòng khi làm việc với và cho Chúa, chúng ta có thể đoan chắc rằng một cách nào đó, trong một vài tình huống Cái Tôi đã len lỏi vào. Cái Tôi giống như một cái thùng không đáy và nó không bao giờ có thể thỏa mãn với những đòi hỏi của nó, những đòi hỏi tiếp tục gia tăng trong vài giây! Vì thế, khi chúng ta khám phá vài khía cạnh của việc không thỏa mãn đang len lỏi vào, đặc biệt với những gì chúng ta nhận được qua việc phục vụ của mình, chúng ta nên ngồi xuống và duyệt xét lại chính mình một cách nghiêm túc và ra công loại bỏ Cái Tôi, hoặc đẩy lui nó ra khỏi việc dâng hiến mà chúng ta dành cho Chúa để phục vụ trong vườn nho của Ngài, cho đến khi chúng ta thanh tẩy những động cơ của mình và quyết định dâng hiến chính mình cho việc phụng sự Ngài một cách nhưng không.

Người môn đệ chỉ lo tìm kiếm phần thưởng trong những việc mình làm thì không phải là một người môn đệ đích thực. Thậm chí khi Mười Hai Tông Đồ có thể hiểu được nguyên tắc này, họ mới cảm thấy vui vì được kể như xứng đáng với Đức Giê-su cho dù phải chịu đau khổ vì danh Người (Cv 5,41). Vào thời của các Ki-tô hữu tiên khởi, chúng ta biết rằng ‘Khi làm lễ bẻ bánh tại tư gia, họ dùng bữa với lòng đơn sơ vui vẻ.’ (Cv 2,46).

Ngày 14/3

“Hãy cậy dựa vào ân huệ trong khi con thi hành sứ vụ, chứ đừng bao giờ cậy dựa vào chính bản thân con.” [ Lời khuyên dành cho một người con linh hướng]

Trong lời khẳng định này, cha Eymard liệt kê ra một nguyên tắc quan trọng khác trong việc thăng tiến đời sống tâm linh. Từ muôn thưở, Thiên Chúa tuyển chọn con người và trao phó cho họ một sứ vụ đặc biệt. Nhiều ngôn sứ đã loan báo một cách công khai rằng họ đã được kêu gọi ‘ngay từ trong lòng mẹ’ (Is 49,1). Bên cạnh việc đặt con người vào sứ vụ được dọn sẵn, Thiên Chúa còn mài dũa cuộc đời và căn tính của họ theo sứ vụ này. Ngài ban cho con người những ân huệ thiêng liêng cần thiết cho mục đích ấy (1 Cr 12,5.6.11). Ngài đặt vào tâm trí và tâm hồn con người một khuynh hướng nội tâm nghiêng chiều về ơn gọi này, có lẽ là không cần họ phải nhận ra (1 Sm 12,20) để trao phó tất cả những khả năng và tài năng bẩm sinh (Mt 25,15-29; Rm 12,6-8). Nhưng trên hết, Thiên Chúa đảm bảo rằng con người chỉ trải nghiệm được những kinh nghiệm này khi họ để cho Ngài hoàn tất sứ vụ ấy một cách khó có thể tin nổi (2 Cr 1,4; cũng như nhớ lại việc Mô-sê đã phải vượt qua sa mạc khi ông lẩn trốn Pha-ra-ô. Chính việc vượt qua cùng một sa mạc ấy mà sau này ông phải dẫn dắt dân Do Thái tiến về miền Đất Hứa).

Vì thế, mỗi người có thể nghiệm xem lòng nhân từ và sự trung tín của Thiên Chúa trong việc tạo dựng và chọn lựa chúng ta vào nhiệm vụ đã được chỉ định mà Ngài sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Dù rằng vấn đề có thể xảy ra thay vì cậy dựa vào Chúa cũng như sự khôn ngoan của Ngài, chúng ta lại chọn lựa để cậy dựa vào chính mình cũng như những khả năng, sức lực, kinh nghiệm, bạn hữu,… của chính mình. Một vài minh chứng trong Kinh Thánh rất sống động về vấn đề này là trường hợp của Saul, vị vua đầu tiên của Ít-ra-en, người đã quá cố chấp vào sự bất xứng của chính mình đến nỗi ông không bao giờ đón nhận sự chọn lựa của Thiên Chúa dành cho ông như một vị vua đầu tiên (1 Sm 9-16). Không nghi ngờ gì vì ông đã chấm dứt đời mình như một kẻ thất bại hoàn toàn! Không một công việc khó khăn nào của ông đi đến thành công. Trái lại, Đa-vít như chúng ta biết ‘được Gia-vê tuyển chọn’ vào mỗi dịp quan trọng, đặc biệt những dịp liên quan đến vận mệnh của dân Ngài, đã tuyên bố rõ ràng rằng: chính Gia-vê mới thực sự chi phối mọi thứ, chứ không phải ông. Trong khi Đa-vít không thể thi hành một cách chính xác những gì Thiên Chúa đã truyền trong mỗi biến cố liên quan đến cuộc sống riêng của ông, tuy nhiên, trong mối tương quan với vai trò là Vua thì ít ra ông đã đoan chắc rằng ông luôn luôn hành động theo những hoạch định của Thiên Chúa.

Vì thế, bất cứ ai muốn đoan chắc rằng cuộc đời và sứ vụ của mình đạt đến thành công, sẽ phải ra công làm việc để nhận ra ‘ân huệ được tuyển chọn’. Và điều này đúng với mỗi người, mỗi người theo cách riêng của mình. Có thể là không gây ấn tượng sâu sắc và chói lóa như những vĩ nhân trong Lịch sử Cứu độ, thế nhưng một khi điều này được thiết lập và chúng ta sẵn sàng để cho Thần Khí của Thiên Chúa dẫn dắt và hướng dẫn chúng ta trên con đường mà Thiên Chúa đã chọn lựa cho chúng ta, thì chúng ta cũng có thể làm những điều vĩ đại cho Thiên Chúa. Chính cha Eymard, người luôn luôn muốn làm ‘điều gì đó đặc biệt’ cho Thiên Chúa, đã đi theo nguyên tắc này và do đó cha có thể khuyên nhủ những người con thiêng liêng bằng niềm tin tưởng. Suốt cuộc đời, cha đã vững tin rằng Thiên Chúa đã chọn cha vào một nhiệm vụ đặc biệt, mặc dù điều đó khiến cha mất đôi chút thời gian để khám phá ra sứ vụ ấy là gì!

Ngày 15/3

“Chúng ta phải cầu nguyện, phải thi hành mọi bổn phận của người Ki-tô hữu, vì Thiên Chúa truyền phải làm như vậy và Ngài mong muốn như vậy.” [ ]

Thật là thú vị biết bao khi bắt đầu tìm hiểu bài suy niệm ngắn nói về việc: đâu là điều Thiên Chúa truyền và đâu là điều Thiên Chúa muốn. Có thể tóm kết điều này trong một giới răn mới mà Đức Giê-su đã ban cho chúng ta trước khi Người rời bỏ thế gian: ‘Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em!’ (Ga 15,9-17). Giới răn này tóm kết toàn bộ mầu nhiệm của đời sống Ki-tô hữu. Giới răn ấy nhắc nhở chúng ta rằng khi tạo dựng chúng ta, Thiên Chúa mời gọi chúng ta bước vào Giao Ước với Ngài, chia sẻ sự sống của Ngài một cách sâu đậm bao nhiêu có thể. Khi chúng ta nên một lòng một ý với Thiên Chúa, chúng ta không thể không muốn cho tất cả mọi người cũng được chia sẻ trong Giao Ước vốn là phương tiện trước tiên để chúng ta cầu xin cho Nước Chúa ngày càng lan rộng và triển nở giữa chúng ta. Chúng ta lưu ý rằng Đức Giê-su đã gồm tóm lời cầu xin cho Nước Chúa trị đến này vào trong lời kinh mà Người đã dạy các môn đệ của Người: Kinh Lạy Cha.

Tuy nhiên, khi một Ki-tô hữu cầu xin cho Nước Chúa trị đến, thì không phải là người ấy đang suy nghĩ về một thực tại nào đó ở quá xa. Người ấy nhớ lại lời rao giảng đầu tiên của Đức Giê-su: ‘Thời kỳ đã mãn, Nước Thiên Chúa đã đến gần; hãy sám hối và tin vào Tin Mừng’ (Mc 1,14-15). Vì Nước Trời đã được Đức Giê-su loan báo và được thiết lập một cách vững chắc qua sự đau khổ và cái chết của Người, công việc mở rộng Nước Chúa của chúng ta đã được đơn giản hóa. Tất cả những gì người tông đồ cần làm hiện nay chính là trở nên một chứng nhân cho sự hiện diện và quyền năng của Thiên Chúa đang hoạt động trong thế giới của chúng ta. Vì thế, lời cầu nguyện của Ki-tô hữu không chỉ đơn thuần là một ước mong đạo đức sao cho Nước Chúa hiển trị ngay giữa chúng ta, nhưng hơn thế nữa đó là một cam kết có ý thức để ra công làm việc bao nhiêu có thể, hầu đạt được kết quả qua những nỗ lực khiêm tốn của chúng ta.

Quả thật, điều mà Ki-tô hữu cầu xin, đó là: Thiên Chúa có thể ban cho họ nhiều cơ hội trong suốt ngày sống để họ có thể làm chứng về lòng nhân từ và tình yêu của Thiên Chúa. Càng có nhiều cơ hội đặt ra trước mặt họ, thì càng có nhiều cơ hội để Nước Chúa được thiết lập một cách vững chắc tại nhiều nơi trên thế gian này. Và hơn nữa, càng có nhiều cơ hội thử thách, thì sứ điệp sẽ càng được truyền đi một cách mạnh mẽ. Vì thế, người Ki-tô hữu không lo sợ thực thi mọi việc tốt, thậm chí là những việc đòi hỏi phải chết đi cho Cái Tôi. Nước Trời mà họ ra công thiết lập không phải là Nước Trời của riêng họ, và vì thế họ không tìm kiếm vinh quang cá nhân; mối bận tâm duy nhất của họ là làm vinh danh Chúa và bày tỏ lòng nhân từ của Thiên Chúa cho mọi người.

Ki-tô hữu có thể sẽ thất bại nhiều lần trong nỗ lực này, thế nhưng điều đó không làm cho họ nhụt chí để vươn lên và lại cố gắng làm tốt hơn nữa. Họ học hỏi được từ những sai lầm trong quá khứ và giúp đỡ những người khác cùng thăng tiến. Họ luôn luôn nhớ rằng họ không làm việc một mình, nhưng cộng tác với Thần Khí cư ngụ trong lòng mình. Mối bận tâm thường xuyên của họ là: ‘Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?’ Và vì thế, họ luôn luôn làm theo ý định của Thiên Chúa, kiện toàn Nước Chúa.

Ngày 16/3

(Cha Eymard- Rước lễ lần đầu, 1823)

“Quà tặng bản thân (gift of self) là một hành vi tự hiến chính mình cao cả nhất.” [ ]

Quà tặng chính yếu mà Thiên Chúa đòi hỏi con người chúng ta dâng lại cho tình yêu vô biên của Ngài một cách quảng đại và liên lỉ, đó chính là: chúng ta dâng cho Ngài cuộc sống của chúng ta, toàn bộ bản thân chúng ta. “Bò của ngươi, Ta nào có thiết; chiên của ngươi, chẳng lẽ Ta ham! Vì thú rừng là của Ta hết thảy, cả ngàn muôn loài vật núi đồi. Mọi thứ chim trời, Ta đều biết rõ,
động vật nơi hoang dã thuộc về Ta. Ta mà đói, Ta đâu cần nói ngươi hay, vì trái đất với mọi loài, chính Ta làm chủ.Thịt bò há là thức Ta ăn? Máu chiên há là đồ Ta uống? “Hãy tiến dâng Thiên Chúa lời tạ ơn làm hy lễ, giữ trọn điều khấn nguyền cùng Ðấng Tối Cao.”
(Tv 50,9-15). Chính thái độ chân thành của con người chúng ta là điều mà Chúa tìm kiếm nơi chúng ta!

Hơn nữa, Giao ước ám chỉ sự qua lại và điều này không diễn ra một cách đơn giản vì chúng ta cũng chọn lựa để đáp trả lại việc trao ban tình yêu của Thiên Chúa. Đối với sự tương tác qua lại đích thực, ít nhất phải có một lý do hợp lý nơi ước muốn hay ý định giữa hai bên. Vì thế, khi Thiên Chúa trao ban chính mình cho chúng ta một cách hoàn toàn, chúng ta không thể cho rằng đó là việc đáp trả qua lại nếu chúng ta dâng cho Ngài chỉ mười phần trăm cuộc đời chúng ta thôi! Do đó chỉ khi nào chúng ta dâng hiến hoàn toàn bản thân mình, không giữ lại điều gì cho Bản Ngã, thì chúng ta mới thực sự dâng hiến bản thân mình. Bên cạnh đó, thật là đúng vì Thiên Chúa ‘đơn thuần’ nhưng lại trao ban chính mình một cách hoàn toàn (không giữ lại ‘phần’ nào cho Thiên Chúa), khi chúng ta tìm cách đáp trả, chúng ta cần phải nỗ lực để hoàn toàn cho đi bản thân mình. Ngược lại, chúng ta sẽ dễ dàng cắt xén và tìm cách đối thoại cũng như thỏa hiệp với Thiên Chúa, như vẫn thường xảy ra trong kinh nghiệm về tất cả mọi chuyện!

Điều ấy không có ý nói rằng Chúa sẽ từ chối bất kỳ một lời đáp trả nào từ phía chúng ta, nghĩa là nếu chúng ta chỉ dâng một phần bản thân mình, thì Ngài sẽ loại trừ chúng ta. Đúng hơn, khi biết rằng đây là cách duy nhất mà con người chúng ta có thể đưa ra, và thấy rằng lời đáp trả nửa vời chủ yếu sẽ làm tổn thương chúng ta, thì Ngài muốn chúng ta sinh ích lợi đến mức tối đa và vì thế Ngài khuyến khích chúng ta làm tốt hơn nữa thay vì chỉ dâng hiến một cách nửa vời. Thiên Chúa tiếp tục tuôn đổ xuống trên chúng ta tình yêu vô bờ bến của Ngài, và Ngài chờ đợi cho đến một ngày nào đó chúng ta nhận thức được tình yêu vô biên này bằng một sự nhận biết nội tâm sâu thẳm và tự nguyện chọn lựa để thay đổi hoàn cảnh. Ngài đã kiên nhẫn đợi chờ nhiều năm đối với một Augustino, nhưng Ngài đoan chắc rằng cuối cùng rồi Augustino cũng sẽ quảng đại đáp trả lại cho dù phải nói ‘Lạy Chúa! Con đã yêu Ngài quá muộn màng’.

Tuy nhiên, cần phải nhắc lại rằng khi chúng ta chọn lựa để dâng hiến bản thân một cách trọn vẹn và cởi mở, thì chính chúng ta là những người đầu tiên được hưởng lợi từ sự mở lòng của mình. Càng cho đi một cách quảng đại, chúng ta lại càng nhận được nhiều hơn- chúng ta nuôi dưỡng và thăng tiến tình trạng tâm linh của mình. Từ bỏ ‘cái tôi’, quyền năng Thiên Chúa tỏa chiếu trên chúng ta sẽ ngày càng rõ rệt hơn. Hơn nữa, chỉ khi chúng ta hoàn toàn dâng hiến chính mình thì chúng ta mới có thể làm chứng trước mặt người khác, không phải chỉ bằng lời nói nhưng bằng chính cuộc sống của chúng ta. ‘Bạn là gì mà lại la lối quá lớn đến nỗi tôi không thể nghe điều bạn nói!’ Sự dâng hiến sẽ mang tính tự phát đến nỗi chúng ta không thể nhận thức được rằng chúng ta thực sự cho đi một cách quảng đại và hoàn toàn!

Ngày 17/3

“Tất cả chúng ta là những thái tử của Chúa Giê-su Ki-tô” [ ]

Cha Eymard thường dùng lối nói này vì cha nhìn nhận Chúa Giê-su như một vị vua. Rõ ràng, cha tưởng tượng những tu sĩ Thánh Thể như những triều thần hay lính gác đợi chờ vị vua oai nghiêm. Sau này cha đã thay đổi cách nhìn khi xem tất cả những ai bước theo Chúa Giê-su đều là “những thái tử”, anh chị em của Chúa, chứ không phải như những đầy tớ. Dĩ nhiên, điều này sẽ dẫn đến cách cư xử của chính Chúa Giê-su trong tương quan với các tông đồ. Lúc đầu, Chúa Giê-su xem các môn đệ như những tôi tớ (khi đã làm tất cả những gì cần làm, chúng ta hãy nói chúng tôi chỉ là những đầy tớ vô dụng Lc 17,10) nhưng sau đó Người khẳng định: “Thầy không gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm, nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe biết nơi Cha Thầy thì Thầy đã cho anh em biết” (Ga 15,15).

Ngày nay, với một sự hiểu biết đúng hơn về Giao Ước cũng như về những hàm ý của nó, chúng ta không chỉ đạt đến mức độ như Thánh Gioan để có thể nói: “anh em hãy xem tình yêu Chúa Cha ban cho chúng ta lớn lao dường nào: đến nỗi chúng ta được gọi là Con Thiên Chúa- mà thật sự chúng ta là … anh em yêu quý, hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa; nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ” (1Ga 3,1-2), chính chúng ta cũng có thể nhận ra mình như những “người con yêu quý của Chúa” vì đó là điều mà Chúa Cha đã nói với chính Chúa Giê-su, Đấng đã được Ngài sinh ra giống như chúng ta về mọi sự chỉ trừ tội lỗi! ‘Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người’ (Mc 1,12-13). Dĩ nhiên, đây là điều duy nhất để nhận biết chân lý, nhưng bao lâu, trong tâm trí chúng ta, nó vẫn chỉ đơn thuần là lý thuyết và suy đoán, thì nó sẽ chẳng đem lại lợi ích gì cho chúng ta cả. Chúng ta cần sống chân lý này ở mọi cấp độ trong lời cầu nguyện của chúng ta, tiến lại gần Chúa Cha với lòng tin tưởng vững vàng, thậm chí khi chúng ta nhận thức được tình trạng tội lỗi của mình, trong mối tương quan với người khác, nhận ra họ cũng là những anh chị em của chúng ta, qua việc chấp nhận đau khổ vì biết rằng Chúa Cha yêu thương chúng ta như chính Ngài yêu Chúa Giê-su và sẽ không để chúng ta phải chịu đau khổ vượt quá sức chịu đựng. Do đó, chúng ta hãy sống như những thành viên trong gia đình của Thiên Chúa (Ep 2,19), trong nhà với Chúa Cha, Chúa Con và Thánh Linh.

Khi chúng ta bắt đầu cảm nghiệm được mức độ của sự thảnh thơi trước nhan Thiên Chúa, bấy giờ không gì có thể tách rời chúng ta ra khỏi điều đó. Chúng ta nhớ lại lời thánh Phao-lô đã nói: “Nếu Thiên Chúa ủng hộ chúng ta, ai chống lại được chúng ta? Chính Con của mình, Thiên Chúa đã không tiếc, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta; lẽ nào, cùn với người Con ấy, Người lại chẳng rộng ban mọi sự cho chúng ta? Ai sẽ tố cáo những người Thiên Chúa đã chọn? Chẳng lẽ Thiên Chúa, Đấng làm cho nên công chính? Ai sẽ kết án họ? Chẳng lẽ Đức Ki-tô Giê-su, Đấng đã chết, hơn nữa, đã trỗi dậy, và đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta?

Ai sẽ tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô? Chẳng lẽ là gian nan,  ngặt nghèo, bắt bớ, đói khát, trần truồng, hiểm nguy, gươm giáo? (Rm 8:31-35). Vì thế, nước trời của chúng ta bắt đầu ngay tại đây, trên trái đất này! Chúng ta là những đứa con của Chúa Con. Một cách khác diễn tả cùng một chân lý này là: “Nếu nhà của ngươi không phải là Nước Trời, thì Nước Trời cũng sẽ không phải là nhà của ngươi! Nếu chúng ta không bắt đầu ngay bây giờ, chúng ta sẽ chẳng bao giờ bắt đầu được. “Ta đã nhận lời ngươi vào thời Ta thi ân, phù trợ ngươi trong ngày Ta cứu độ” (2 Cr 6,2).

 

Ngày 18/3                                                                   

“Hãy tiếp tục phục vụ Ông Chủ nhân lành bằng niềm tin đơn sơ và lòng mến yêu tha thiết.” [ ]

Để hiểu được lời khuyên ngắn gọn mà cha Eymard đưa ra, trước hết chúng ta cần phải cảm nghiệm Thiên Chúa như ‘Ông chủ nhân lành’. Và điều này chỉ có thể xảy ra sau khi có hàng loạt sự tương giao với Thiên Chúa, qua đó chúng ta biết được từ kinh nghiệm rằng Ngài không bao giờ để cho bất cứ điều gì nguy hại xảy đến với chúng ta. Và thậm chí nếu chúng ta có gặp phải đau đớn và khổ đau, Ngài hứa rằng Ngài sẽ ở gần chúng ta; thực ra là Ngài sẽ ở cùng và ở trong chúng ta, cùng chịu khổ đau với chúng ta. Khi điều này trở thành một sự xác tín nơi chúng ta, bấy giờ chúng ta sẽ không gặp khó khăn trong việc phục vụ Ông Chủ nhân lành, như cha Eymard đã đề nghị.

Đi xa hơn một chút, chúng ta có thể nói rằng: nhìn chung, chúng ta phục vụ Ông Chủ ít ra là với một ý nghĩ mập mờ rằng chúng ta sẽ là những kẻ có lợi trong việc phục vụ đó. Như Phê-rô, chúng ta thường hỏi: “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì?” Ðức Giêsu đáp: “Thầy bảo thật anh em: anh em là những người đã theo Thầy, thì đến thời tái sinh, khi Con Người ngự tòa vinh hiển, anh em cũng sẽ được ngự trên mười hai tòa mà xét xử mười hai chi tộc Ítraen. Và phàm ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì danh Thầy, thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống đời đời làm gia nghiệp.” (Mt 19,27-29). Trong khi lối suy nghĩ này là có thể thông cảm được, xét về thân phận con người chúng ta, thì quả thực sẽ là điều tốt hơn nếu chúng ta có thể phục vụ Ông Chủ mà không vướng mắc vào bất kỳ ràng buộc nào. Không ai có thể trổi vượt hơn Ngài về lòng quảng đại, và thực tế Ngài sẽ trả lại cho chúng ta nhiều hơn và tốt hơn những gì chúng ta xứng đáng lãnh nhận.

Tìm cách phục vụ Ông Chủ cách không vụ lợi là một cách khác diễn tả niềm tin đơn sơ của chúng ta vào lòng nhân từ của Ngài. Điều đó cho thấy chắc chắn chúng ta biết rằng Ngài sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta lúc hoạn nạn, cũng như lòng nhân hậu của Ngài quá vĩ đại đến nỗi Ngài xứng đáng để được toàn thể tạo thành phục vụ cũng như sẵn sàng hy sinh thân mình mà không đòi hỏi được đáp đền. Khi chúng ta phục vụ theo cách này, chúng ta sẽ hiệp cùng triều thần thánh và các thiên thần cũng như những người có ý muốn ngay lành trên khắp thế gian để suy tôn và tán dương Thiên Chúa đầy lòng yêu thương của chúng ta. Hơn nữa, chỉ với cách này, chúng ta mới thực sự tìm được ích lợi vì bấy giờ chúng ta sẽ hoàn toàn mở lòng ra để đón nhận tất cả những gì Thiên Chúa muốn ban cho chúng ta.

“Chúc tụng CHÚA đi, hồn tôi hỡi, chớ khá quên mọi ân huệ của Người. CHÚA tha cho ngươi muôn ngàn tội lỗi, thương chữa lành các bệnh tật ngươi. Cứu ngươi khỏi chôn vùi đáy huyệt, bao bọc ngươi bằng ân nghĩa với lượng hải hà, ban cho đời ngươi chứa chan hạnh phúc,
khiến tuổi xuân ngươi mạnh mẽ tựa chim bằng…”
(Tv 103,2-5). Phục vụ Chúa là một niềm vui và một đặc quyền, chứ không phải một sự nô dịch! “Một ngày tại khuôn viên thánh điện quý hơn cả ngàn ngày. Thà con ở cổng đền Thiên Chúa vẫn còn hơn sống trong trại ác nhân!” (Tv 84,1-11). Sẽ là ích lợi cho chúng ta để hiểu được chân lý này mà không phải trải qua kinh nghiệm đau khổ của người con hoang đàng trong suốt thời kỳ đói kém tại vùng đất dân ngoại, anh ta không có thứ gì để thỏa lấp cơn đói của mình, trong khi những đầy tớ ở nhà cha anh lại có nhiều hơn những gì họ cần!

 

Ngày 19/3

“Sự trung thành là phẩm chất quan trọng nhất của lòng sùng mộ.” [ ]

Lòng sùng mộ diễn tả mối tình con thảo của chúng ta với Thiên Chúa, Cha của chúng ta. Nó bao gồm một lòng sùng kính mến yêu và những cách biểu lộ tình yêu dành cho Thiên Chúa. Tuy nhiên, trong tương quan này cũng như tất cả những biểu hiện của nó, điều quan trọng cần đảm bảo là chúng ta vẫn bước đi trên chính lộ chứ không bị nhấn chìm bởi cảm xúc. Mối tương quan với Thiên Chúa của chúng ta không phải là vấn đề lời nói, hay những cảm xúc đẹp mà chúng ta bày tỏ ra khi cầu nguyện. Vì mọi người đều biết rằng: những lời được thốt ra mà thiếu đi một chút nỗ lực, thì những gì phát xuất từ con tim sẽ chẳng còn ý nghĩa gì nữa! Thật không may, không chỉ trong tương quan của chúng ta với Thiên Chúa nhưng còn trong cách đối xử của chúng ta với người khác, thường thì chúng ta không khám phá ra ‘tất cả’ những gì thuộc về mình để gìn giữ mối dây bền chặt của tình bằng hữu. Sự cuốn hút vào những rắc rối hay những khó khăn của chúng ta làm cho chúng ta chỉ hoàn toàn quy hướng vào chính mình, vì thế điểm then chốt trong một mối tương quan, sự dâng hiến bản thân hay quà tặng bản vị, thường bị bỏ qua.

Mọi người đều hiểu rằng: mối tương quan giữa hai người khi dựa trên những đòi hỏi nông cạn sẽ không thể kéo dài được. Không có chút tình cảm nào trong mối tương quan ấy để có thể giúp nó vượt qua những trở ngại và khó khăn, vốn làm nên thành phần của một mối dây liên kết như thế. Vì vậy, điều quan trọng trước hết trong tương quan của chúng ta với Thiên Chúa, đó là: chúng ta phải được chuẩn bị để dâng hiến chính mình cho Ngài, sẵn sàng đánh mất chính mình trong Ngài, dùng mọi phương tiện để sẵn sàng làm theo ý Ngài trong mọi lúc cũng như trong mọi tình cảnh. Hiện nay, tất cả chúng ta thường đi quá xa, nhưng một đòi hỏi trong tương lai, đó là: điều này nên trở thành một tiêu chuẩn trong cách cư xử của chúng ta, và sẽ không còn phải là một ‘chuyện đầu voi đuôi chuột’ của điều gì đó hiếm thấy, nhưng đây là điều sẽ thiết lập nên lòng trung thành. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải dựa vào quyết định của mình để cho đi, đặc biệt khi sự việc diễn ra một cách cứng ngắc và mang tính đòi hỏi. Chính trong những lúc khó khăn ấy, đức tin của chúng ta vào Thiên Chúa sẽ bị thử thách và chính trong những lúc thử thách này, chúng ta mới biết được mình có thể duy trì được mức độ gần gũi cũng như dâng hiến chính mình hay không. Nếu chúng ta chỉ quảng đại với Chúa khi mọi sự diễn ra suông sẻ với mình, thì rõ ràng là chúng ta chỉ nhắm đến những ân huệ của Thiên Chúa sau đó, chứ không phải là Thiên Chúa- Đấng ban phát muôn ân huệ. Thiên Chúa thì quan trọng hơn là những ân huệ và những ân sủng, Ngài có thể tùy ý trao ban cho chúng ta!

Tiếp tục ở lại với Thiên Chúa trong những lúc thuận lợi cũng như trong những lúc bất lợi là dấu hiệu của một mối tương quan sâu đậm và đầy yêu thương với Ngài. Tuy nhiên, chúng ta nhớ lại rằng sự sâu thẳm của lòng trung tín là một ân huệ đến từ Chúa Cha, vì thế điều chúng ta cần cầu xin luôn luôn là chúng ta phải mở lòng ra để đón nhận và quảng đại cho đi bằng cả tấm lòng; chúng ta luôn luôn mở lòng ra để cho Thần Khí của Thiên Chúa hoạt động nơi chúng ta dẫn dắt chúng ta đến sự sống viên mãn mà Đức Giê-su đem lại cho chúng ta. Một lĩnh vực mà qua đó chúng ta được mời gọi bày tỏ lòng trung tín đó là việc cầu nguyện của chúng ta. Nếu chúng ta chỉ cầu nguyện khi điều đó phù hợp với chúng ta, hay có lợi cho chúng ta hay có ý nghĩa và làm hài lòng chúng ta, thì rõ ràng là Cái Tôi vẫn là tâm điểm của cuộc đời chúng ta. Thế nhưng, nếu chúng ta trung thành với thời giờ cầu nguyện, bất kể là cảm giác của chúng ta có thế nào đi chăng nữa, và nếu chúng ta cứ tiếp tục như vậy mà không rút ngắn hoặc thay đổi, thì điều đó sẽ ngày càng trở nên một dấu hiệu về lòng trung tín của chúng ta. Đó là một dấu hiệu cho thấy chúng ta đang tìm kiếm Thiên Chúa vì chính Ngài, chứ không phải vì những ân huệ của Ngài!

Ngày 20/3

“Hãy luôn giữ cho tâm hồn được nâng cao và vui tươi, hãy giữ một tinh thần thoải mái trước những khó khăn mà bạn gặp phải.” [ ]

Ở đây, chúng ta bắt gặp một câu nói khác của cha Eymard phát xuất từ chính kinh nghiệm cá nhân và sự gần gũi với Thiên Chúa hơn là từ lý lẽ hoặc trí thông minh của cha. Mặc dầu mọi người trong thời đại cha dường như chỉ chú trọng vào cuộc thương khó và sự chết của Đức Giê-su, thì cha lại là một trong số ít người có thể vượt qua tất cả những điều đó để đến với chân lý về Sự Phục Sinh trong cuộc đời của chúng ta. Nếu chúng ta cùng chết với Đức Ki-tô, chúng ta tin rằng chúng ta cũng cùng trỗi dậy với Người (Rm 6,2-4) thậm chí nếu chúng ta không cảm nghiệm được quyền năng toàn hảo của sự phục sinh ở mức độ cảm giác đi nữa. Chết-trỗi dậy là hai mặt của cùng một đồng xu… chúng không thể được tách rời! Vì vậy thật đúng khi nói rằng một Ki-tô hữu đích thực không bao giờ là một người buồn bã, một người rầu rĩ. Chắc chắn sẽ có những khó khăn và thập giá bày ra trên đường đời của người ấy, thế nhưng người môn đệ đích thực của Đức Giê-su có thể vượt qua tất cả những điều đó để đến với vinh quang Phục sinh đang chiếu tỏa ngay bây giờ.

Bên cạnh đó, Ki-tô hữu ghi nhớ lời hứa của Đức Ki-tô: ‘Đừng sợ, Thầy đã thắng thế gian… Thầy ở với anh em cho đến tận thế…’ (Mt 28,20). Hay như Tin Mừng Mác-cô kết luận: “Nói xong, Chúa Giêsu được rước lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. Còn các Tông Ðồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng.” (Mc 16,19-20). Ki-tô hữu, người có đức tin mạnh mẽ và thực tế, có thể ‘nhận ra’ Chúa Phục sinh đang làm việc trong và qua cuộc đời cũng như hoạt động của họ,… thậm chí khi những khó khăn xảy đến, người ấy không ngã lòng hay thất vọng. Người ấy xác tín mạnh mẽ rằng Thứ Sáu Tuần Thánh trong cuộc đời mình chắc chắn sẽ qua, mở đường cho một Ngày Chúa Nhật Phục sinh mới, ngày của Chúa sẽ không bao giờ qua đi.

“Kẻ tin lẫn kẻ không tin đều phải chịu những bất toàn và bất an của cuộc sống, nhưng con cái Thiên Chúa luôn luôn có thể cậy dựa vào tình yêu của Chúa Cha.

Lý do là sẽ có ánh sáng ngay giữa bóng tối, một niềm vui không thể hiểu nổi ngay giữa nỗi buồn, và chúng ta có thể tìm thấy phương thế của hạnh phúc và bình an trong những hoàn cảnh xung quanh mình.” (Tv. 32 Psalms Now, Leslie Brandt).

Đời sống vui tươi của một Ki-tô hữu trong mọi cảnh huống là bằng chứng cao cả nhất để họ chứng tỏ sự hiện diện của Chúa Phục Sinh ngay giữa thời đại chúng ta ngày nay. Lời chứng ấy mạnh hơn cả những lời nói, vì niềm vui sâu thẳm trong tâm hồn chúng ta phải thể hiện qua những thái độ và cách cư xử của chúng ta.

Ngày 21/3 

(Cha Eymard- Lời khấn bản vị 1865)

“Thánh Lễ là việc thực hành tôn giáo cao trọng nhất và thánh thiện nhất.” [ ]

Từ ‘religion’ bắt nguồn từ tiếng Latinh và có nghĩa là ‘ràng buộc lại’. Vì thế, những thực hành tôn giáo được thiết định và hướng đến việc ràng buộc chúng ta một cách chặt chẽ hơn với Thiên Chúa. Ngày nay, trong tất cả những thực hành tôn giáo, có rất nhiều nghi thức, mỗi nghi thức lôi cuốn một nhóm người cũng như một tính khí nào đó. Thế nhưng, lời nhận xét của cha Eymard đó là: trong tất cả những thực hành tôn giáo của chúng ta, thì Thánh Thể (vào thời của cha còn được biết với tên gọi phổ biến là ‘Thánh Lễ’) là cao trọng nhất và thánh thiện nhất.

Có thể nói Thánh Lễ là cao trọng nhất bởi vì cốt lõi của việc cử hành Thánh Thể hướng trực tiếp đến trọng tâm của vấn đề về tương quan của chúng ta với Thiên Chúa. Nếu chúng ta ao ước thủ đắc một sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa, trước tiên chúng ta phải từ bỏ Cái Tôi; sự kết hiệp càng sâu đậm thì lại càng phải chết đi cho Cái Tôi! Như vậy, Thánh Thể không gì khác hơn chính là sự hiến mình hoàn toàn và đầy yêu thương của Đức Giê-su qua việc vâng phục Chúa Cha cũng như tình yêu dành cho anh em của Người, được chiếu tỏa và tỏ lộ ra cho chúng ta. Khi chúng ta cử hành Thánh Thể một cách ý nghĩa, điều chúng ta làm đó là kết hợp sự hy sinh của chính mình, một cách hoàn toàn và đầy yêu thương bao nhiêu có thể, với sự hiến mình của Đức Giê-su và dâng lên Chúa Cha. Khi điều này liên hệ đến sự trao ban chính mình, thì rõ ràng đó sẽ là việc thực hành tôn giáo cao trọng nhất; bên cạnh đó không phải chúng ta nhân danh mình mà dâng việc thực hành ấy lên Chúa Cha. Việc thực hành ấy hướng đến sự trọn hảo và sự dâng hiến mình hoàn toàn của chính Đức Giê-su. Vì thế, không gì có thể cao trọng hơn Thánh Lễ miễn là sự kết hiệp với Thiên Chúa còn liên quan đến.

Bên cạnh đó, qua Thánh Thể, Đức Giê-su trao ban chính mình một cách tự nguyện và đầy yêu thương, để chúng ta có thể đạt đến một sự kết hiệp mật thiết với Người ‘Hãy cầm lấy mà ăn/uống; Này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì anh em…’ Mục tiêu của Thánh Lễ chính là việc kết hiệp với Thiên Chúa và đứng từ góc độ này thì Thánh Lễ cao trọng nhất. Nếu nhiều Ki-tô hữu trong chúng ta ý thức hơn về chân lý này, chúng ta có thể sử dụng một cách tốt hơn những phương tiện mà qua sự nhân lành và tình yêu, Thiên Chúa trao ban cho chúng ta một cách quảng đại.

Bên cạnh đó, Thánh Lễ cũng thánh thiện nhất (sâu sắc, hiệu quả nhất) vì Thánh Lễ do chính Đức Giê-su thiết lập. Không ai có thể nghĩ ra một điều gì đó quá tuyệt vời, đơn giản nhưng hiệu quả như Thánh Lễ. Tuy nhiên, Thánh Lễ, giống như tất cả những nguồn trợ giúp khác mà Đức Giê-su ban cho chúng ta chỉ có ý nghĩa trong bối cảnh đức tin. Đức tin của chúng ta càng sâu sắc và sống động, sự kết hiệp sẽ ngày càng mạnh mẽ. Phao-lô, người không chỉ hiểu đúng nhưng còn đau đớn chỉ ra những quan niệm sai lạc và sự lầm lạc liên quan đến việc cử hành Thánh Thể của những tín hữu ở Cô-rin-tô, hầu như đã tìm được ích lợi tối đa từ Thánh Thể đến nỗi ngài có thể tự mình nói rằng: ‘Không phải tôi sống, mà chính Đức Ki-tô sống trong tôi!’ (Gl 2,20). Chúng ta càng hiểu rõ hơn về Thánh Thể và càng tìm cách đi vào sức năng động của Thánh Thể, thì những hiệu quả của Thánh Thể trong đời sống chúng ta sẽ ngày càng cụ thể và thực tiễn hơn.

Ngày 22/3

“Cầu nguyện là tôn vinh lòng nhân từ vô biên của Thiên Chúa.” [ ]

Cầu nguyện là điều thiết yếu trong đời sống Ki-tô hữu. Mỗi một tín hữu không chỉ học cách cầu nguyện ngay từ lúc nhỏ, nhưng còn gắn kết với việc cầu nguyện trong suốt ngày sống. Tuy nhiên, nhiều người vẫn có những quan niệm sai lạc về mục đích và hiệu quả của cầu nguyện. Hầu hết các Ki-tô hữu đều quen thuộc với việc cầu xin và có lẽ đây là cách cầu nguyện được thực hành nhiều nhất, tất cả chúng ta thực hành việc tạ ơn và ngợi khen từ thời nọ đến thời kia. Tuy nhiên, khi chúng ta chú ý đến tất cả những gì mà Đức Giê-su nói với chúng ta về tình yêu bao la của Chúa Cha dành cho chúng ta, Ngài biết những gì chúng ta cần trước cả khi chúng ta cầu xin, Ngài sẽ không cho chúng ta một hòn đá khi chúng ta xin bánh, Ngài sẽ không bao giờ để cho một sợi tóc trên đầu chúng ta rơi xuống mà không có sự chấp thuận của Ngài… chúng ta nhận ra rằng chúng ta không nên quá chú trọng đến việc cầu xin.

Thứ hai, vì cầu nguyện nhắm đến sự từ bỏ mình, chúng ta cần hiểu biết hơn và dành nhiều thời giờ để ngợi khen và tạ ơn. ‘Vinh quang’ trong Kinh Thánh được định nghĩa là ‘sự tuyệt vời của một người nào đó được nhận ra qua hành động’. Vì vậy, sự tuyệt vời của một nghệ sĩ vĩ cầm được nhận ra khi người ấy thực sự chơi nhạc cụ. Lắng nghe những giai điệu phát ra từ cây vĩ cầm của anh ta, thính giả sẽ ‘nhận ra’ vinh quang của anh, kỹ năng của anh trong nghệ thuật chơi violon cũng như vỗ tay tán thưởng kỹ năng của anh! Cũng vậy, nếu chúng ta ước muốn ‘tôn vinh’ Thiên Chúa của chúng ta, trước tiên việc chúng ta cần làm đó là quan sát, chăm chú nhìn, suy niệm về quyền năng kỳ diệu nơi hành động của Ngài. Vì thế, khi chúng ta cảm nhận được quyền năng quan phòng của Thiên Chúa dành cho chúng ta, chúng ta không thể không ngợi khen và tôn vinh Ngài; chúng ta có thể tôn vinh Ngài trước mặt những người khác khi chúng ta nói cho họ biết về những gì mình đã cảm nghiệm được, hoặc chúng ta cũng tôn vinh Ngài khi chúng ta nói với chính Thiên Chúa về những kinh nghiệm ấy qua việc cầu nguyện.

Nhiều Thánh vịnh chúng ta thường đọc đều là những lời nguyện ngợi khen tuyệt đẹp, thế nhưng đối với chúng ta, để cầu nguyện bằng Thánh vịnh một cách có ý nghĩa, trước tiên chúng ta cần bước vào kinh nghiệm của các vịnh gia. Một điểm cần ghi nhớ trong tâm trí, đó là: việc ngợi khen chủ yếu ám chỉ đến cảm xúc, đó là một sự bùng phát mãnh liệt để tán dương lòng nhân từ không thể tin được của Thiên Chúa. Ở đó luôn có yếu tố của ngạc nhiên, của băn khoăn và biết ơn (một kinh nghiệm tuyệt vời) trong lời nguyện ngợi khen. Lòng nhân từ của Thiên Chúa dành cho chúng ta vượt trên cả sự mong chờ của chúng ta, chính xác là vì Thiên Chúa không bao giờ ban hay chúc lành cho chúng ta ít một: lòng nhân từ của Ngài luôn luôn là một ân huệ bao la. Vì thế, khi chúng ta nhận ra sự không giới hạn của lòng nhân hậu và tình yêu nơi Thiên Chúa, chúng ta không thể không ngợi khen Ngài.

Nói chung, các Ki-tô hữu ngày nay cần tập trung nhiều vào việc ngợi khen hơn là xin ơn. Đây là một việc thực hành hữu ích cho đức tin của chúng ta cũng như làm cho chúng ta ngày càng biết mở lòng ra với tất cả những gì Chúa Cha muốn đổ xuống trên chúng ta. Vì thế, lời đề nghị của cha Eymard rất phù hợp với thời đại chúng ta. Thế nhưng, cần nhớ rằng việc ngợi khen của chúng ta không nên chỉ giới hạn ở số lần khi chúng ta nhận ra rằng chúng ta được hưởng ân huệ nhờ Thiên Chúa… chúng ta cần học cách ngợi khen Thiên Chúa vì chính lòng nhân hậu của Ngài. Thánh vịnh 104 là một ví dụ điển hình về việc ca tụng này.

Ngày 23/3

“Những lời cầu nguyện là những lời cầu khẩn.” [ ]

Lời ca tụng và tạ ơn có lẽ là những hình thức hay nhất và cao trọng nhất của việc cầu nguyện, như khi chúng ta lữ hành trên cuộc đời này, chúng ta cũng cần cầu xin hay khẩn nài khi chúng ta bước đi. Tuy nhiên, điểm chính yếu cần phải ghi khắc trong tâm trí, đó là: chúng ta đã thực hiện việc cầu xin này như thế nào và đâu là những thói kiêu ngạo ẩn sau việc cầu nguyện này. Chúng ta nhớ lại những gì Tin Mừng nói với chúng ta về cầu nguyện. ‘Khi anh em cầu nguyện, đừng nói nhiều lời như dân ngoại…’ (Mt 6,3-15). Thật đáng để kiểm nghiệm xem chúng ta dựa quá nhiều vào việc dùng từ và cụm từ khi chúng ta cần như thế nào, hay dùng những lời cầu nguyện do người khác soạn ra hơn là cầu nguyện từ chính cõi lòng chúng ta. Dường như, một cách nào đó, chúng ta đang buộc lưỡi mình lại khi muốn diễn tả lời cầu nguyện bằng chính lời của mình.

Vả lại, thực sự chúng ta có cần phải giải thích những vấn đề của mình một cách chi tiết với Cha chúng ta khi mà Chúa Giê-su phán bảo chúng ta rằng: Ngài biết rõ những gì chúng ta cần trước cả khi chúng ta xin? Một sự ngắm nhìn tràn đầy tin tưởng hướng về Ngài sẽ không hiệu quả ít ra là đôi lần sao? Hơn nữa, làm thế nào để chúng ta có thể tự nguyện trao phó những khúc mắc của mình vào bàn tay yêu thương của Thiên Chúa và tiếp tục lắng nghe những gì Ngài nói với chúng ta? Nhìn chung, chúng ta có giữ thinh lặng nhiều trong khi cầu nguyện? Chúng ta cảm thấy và phản ứng thế nào khi quên đề cập đến một chủ đề cụ thể hay một mục nào đó khi cầu nguyện. Chúng ta có thể tiếp tục bình tĩnh và thinh lặng khi cầu nguyện vì Thiên Chúa thấu hiểu tâm hồn chúng ta hơn là lắng nghe những lời nói của chúng ta? Và chúng ta có cần lặp lại lời cầu nguyện nhiều lần (hay một số lần cụ thể) cho tới khi nhận ra rằng: chúng ta đã được nhậm lời hay không được nhậm lời?

Bên cạnh đó, phải chăng khi cầu nguyện, mục tiêu chính của chúng ta là quy hướng đến chính bản thân mình cũng như những nhu cầu của mình hay là đến sự nhân lành của Thiên Chúa, Đấng ban cho chúng ta tất cả những gì chúng ta cần, không phải vì chúng ta tốt hay chúng ta đã cầu xin đúng cách? Vả lại, trong lời khẩn nài, chúng ta có cầu nguyện nhiều cho người khác cũng như những nhu cầu của họ, thậm chí là cho những người chúng ta không biết nhưng chúng ta đã nghe nói hay đọc được ở đâu đó; nhu cầu của họ có ảnh hưởng đến chúng ta như thể là nhu cầu của chính chúng ta? Chúng ta có nhận ra mình là những sứ giả được tuyển chọn để chuyển cầu cho người khác như tổ phụ Abraham đã làm, đặc biệt là cho những ai không có cảm nghiệm cá nhân về lòng nhân từ của Thiên Chúa? Nói chung, chúng ta sẽ phải thừa nhận rằng: những mối quan tâm của chúng ta chủ yếu chỉ là về bản thân mình, chúng ta không ‘mặc lấy tâm tình của Đức Ki-tô’ để cảm thấy tâm hồn Ngài đang bừng cháy vì tình yêu dành cho mỗi con người, đặc biệt là những ai đang gặp đau đớn hay khổ sở.

Trong Cựu Ước, chúng ta có một bằng chứng thuyết phục của tổ phụ Abraham khi cầu xin cho dân thành Xơ-đôm và Gô-mô-ra, ông cầu xin như thể họ là gia đình của chính ông cũng như gia sản của họ là gia sản của chính ông vậy. Khi chúng ta đồng cảm với những con người mà chúng ta có ý cầu nguyện cho, lời cầu nguyện của chúng ta sẽ ngày càng trở nên sốt sắng hơn. Vả lại, chúng ta thấy được mẫu gương của Mô-sê khẩn khoản nài xin Thiên Chúa tha thứ cho dân chúng vì tội thờ ngẫu tượng, sau khi họ đúc tượng Bò Vàng! (Xh 32,11-14). Vào lúc ấy, Mô-sê đã để cuộc đời mình đi đúng hướng và chúng ta thấy lời thỉnh cầu của ông dựa trên lòng nhân từ cũng như ước muốn của Thiên Chúa để chúc phúc cho dân Ít-ra-en là dân được Ngài tuyển chọn!

Ngày 24/3

“Hãy cầu xin để có được một đức tin đơn sơ và tinh tuyền vào Thánh Thể.” [ ]

Thánh Thể được gọi và là “mầu nhiệm đức tin!” Ở mức độ thứ nhất, điều này đơn giản có nghĩa là: nếu một người nào đó thiếu đức tin, thì Thánh Thể sẽ chẳng có ý nghĩa gì đối với anh ta cả. Như một thánh thi tuyệt đẹp “Adoro te devote” đã nói:

“Nhìn, đụng chạm và cảm nếm, cả ba đều được cảm nhận;

chỉ một mình tai tin rằng:

Tôi tin tất cả những gì Con Thiên Chúa đã phán,

Không có điều gì thật hơn chính lời của Sự Thật.”

Chúng ta chấp nhận sự thật bằng cả tấm lòng rằng: nơi Thánh Thể, chúng ta không chỉ lãnh nhận một mẩu bánh đã được bẻ ra, nhưng chính Thiên Chúa hiện diện một cách kỳ diệu trong đó. Không phải mọi người đều có thể chấp nhận sự thật này, như chúng ta biết vào thời của chính Đức Giê-su. Sau khi Đức Giê-su giải thích cho dân chúng, những người đã ăn bánh trong sa mạc rằng nếu họ không ăn thịt Con Người và uống máu Người, họ sẽ không có sự sống nơi mình. Nhiều người đã không đi theo Người nữa, đến độ Người hỏi các môn đệ Người rằng họ cũng sẽ từ bỏ Người chứ! (Ga 6,61-69). Vì vậy, không ai có thể đến với Đức Giê-su mà không được Chúa Cha lôi kéo bằng quà tặng đức tin đặc biệt của Ngài. Và đó là điều mà cha Eymard khuyên chúng ta hãy cầu xin cho được một đức tin đơn sơ và tinh tuyền vào sự hiện diện của Đức Giê-su nơi Thánh Thể.

Tuy nhiên, có lẽ ngày nay điều cần thiết đối với chúng ta, đó là: cầu xin làm sao để đức tin có thể giúp chúng ta cũng biết chấp nhận lý do vì sao Đức Giê-su lại hiện diện trước mặt chúng ta qua dấu chỉ tuyệt vời của Thánh Thể. Ngày nay, chúng ta phân biệt giữa sự hiện diện tĩnh tại với sự hiện diện năng động của Đức Giê-su nơi Thánh Thể. Trong suốt buổi cử hành, chúng ta khẳng định rằng: đây chính là sự hiện diện năng động của Đức Giê-su mà chúng ta phải để ý đến, điều đó có nghĩa rằng Đức Giê-su đang hiện diện ở đó để biến đổi chúng ta thành chính Người và sai chúng ta ra đi như những chứng nhân của Nước Người. Thế nhưng, Người sẽ không bao giờ có thể thực hiện được điều đó nếu chúng ta không tự nguyện đặt chính mình vào bàn tay của Người, như cục đất sét trong tay người thợ gốm. Đó là một sự dâng hiến trọn cuộc đời của chúng ta vào tay Thiên Chúa một cách hoàn toàn và đầy yêu thương. Từ góc độ này, niềm tin của chúng ta đảm bảo rằng khi chúng ta phó thác đời mình vào tay Thiên Chúa, không có mối nguy hại nào sẽ xảy đến với chúng ta cả. Điều đó giống như việc dùng một sợi dây để cột chặt chúng ta vào tay Ngài trong khi Ngài từng bước băng qua vực thẳm bằng chính sợi dây ấy.

Thế nhưng cũng có một sự hiện diện tĩnh tại như khi Bánh Thánh được lưu giữ trong Nhà Tạm mời gọi chúng ta dành thời giờ để cầu nguyện trong sự thinh lặng. Từ góc độ này, thật là phải lẽ để thờ lạy Chúa nơi Thánh Thể, cần nói thêm rằng: nơi Bí Tích này, Ngài vẫn tiếp tục công trình biến đổi chúng ta khi trong suốt ngày sống, chúng ta tìm cách đáp trả bao nhiêu có thể qua việc vâng phục. Ngài hiện diện trong chúng ta cũng giống như Ngài hiện diện nơi Nhiệm Tích Tình Yêu để đồng hành với chúng ta trên hành trình tiến về nhà Cha. Việc thờ phượng Chúa Giê-su của chúng ta nơi sự hiện diện tĩnh tại của Người này cũng phải vô vị lợi theo nghĩa chúng ta không cầu nguyện trước Thánh Thể chủ yếu để xin ơn cho chính chúng ta, nhưng là để cảm nhận lòng nhân từ của Thiên Chúa dành cho chúng ta sâu thẳm dường nào.

Ngày 25/3

“Thiên Chúa đã ban thưởng cho Mẹ Maria vinh quang và danh dự như một kiệt tác của tình yêu Ngài.” [ ]

Hôm nay, Giáo hội mừng kính lễ Truyền Tin. Biến cố ấy báo trước sự khởi đầu ơn cứu độ của chúng ta qua Mẹ Maria, người đã quảng đại thưa tiếng ‘Xin vâng’ (Xin hãy làm cho tôi…) qua việc đáp trả lời mời gọi cộng tác vào công trình cứu độ của Thiên Chúa. Tất cả chúng ta đều biết rằng câu trả lời ngoại lệ của Mẹ Maria không phải của chính Mẹ, bởi vì Mẹ đã được tràn đầy quyền năng và ân sủng của Thánh Thần đến nỗi Mẹ có thể vươn đến những tầm cao này. Chúa Cha đặc biệt đã chuẩn bị cho Mẹ Maria trở thành một khí cụ để cộng tác với Ngài, vì thế thật là phù hợp khi nhìn nhận Mẹ như là ‘kiệt tác của tình yêu Ngài’.

Thế nhưng, Mẹ Maria không bao giờ quên rằng chính Mẹ không gì khác hơn là nữ tỳ của Chúa, một trinh nữ đơn sơ mà dưới cái nhìn của người đương thời hoàn toàn chỉ là một người ‘vô dụng’ trong vai trò làm mẹ. Mặc dù đã đính hôn với Giuse, thế nhưng Mẹ đã không sinh con, điều duy nhất sẽ đem lại địa vị cho Mẹ dưới nhãn quan của xã hội. Mẹ hoàn toàn nhận ra rằng sự vĩ đại của Mẹ không hệ tại nơi chính bản thân Mẹ cũng như nơi những tài năng tự nhiên, nhưng hệ tại nơi công trình và sự chọn lựa của Chúa Cha. Vì thế, Mẹ đã thốt lên rằng: ‘Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả. Danh Ngài là thánh’, thì Mẹ cũng thêm rằng ‘Ngài đã đoái đến phận nữ tỳ hèn mọn vì từ nay muôn thế hệ sẽ khen tôi có phúc’ (Lc 1,46-55).

Mẹ Maria nhắn nhủ chúng ta qua chính con người của Mẹ về nghịch lý của người Ki-tô hữu: chính những tội nhân yếu đuối và tan nát cõi lòng lại là những kẻ được Thiên Chúa tuyển chọn để trở thành những khí cụ cho công trình vĩ đại của Ngài. Phao-lô tự coi mình như một ‘đứa trẻ sinh non’ (1Cr 15,8) hay như ‘tội nhân tồi tệ nhất’ (1Tm 1,12) thế nhưng ngài lại là ‘lợi khí Ta chọn’ (Cv 9,15) trong bàn tay của Thiên Chúa. Bấy giờ bài học dành cho chúng ta, đó là: khi nhìn vào Mẹ Maria, chúng ta nên sẵn sàng chấp nhận sự hư không và những giới hạn của chính mình mà không cố gắng che giấu chúng đi hay lý luận hay thậm chí đổ lỗi cho người khác. Chúng ta cũng không nên xấu hổ hay sợ hãi lao vào công việc loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa vì những giới hạn này của chúng ta. Sau cùng, không phải chính sức mạnh hay sự chân thật của chúng ta sẽ chinh phục được nhiều người cho Nước Trời, nhưng chính tình yêu Thiên Chúa đã kết nối chúng ta với người khác. Bao lâu chúng ta có thể đón nhận tình yêu Thiên Chúa mà không bị thống trị bởi chính cái tôi hay chủ nghĩa cá nhân của mình, bấy giờ Nước Trời sẽ lan rộng, thậm chí không cần sự hiểu biết của chúng ta hay không cần đến bất kỳ sự đóng góp nào của chúng ta.

Nếu việc tôn kính Mẹ Maria khơi lên lòng can đảm và tinh thần quả cảm nơi chúng ta, thì việc ngợi khen của chúng ta dành cho Mẹ sẽ không bao giờ bị đặt sai vị trí vì chúng ta tôn kính và ngợi khen điều Thiên Chúa đã thực hiện nơi cuộc đời Mẹ, đặc biệt Mẹ như một mẫu gương cho chúng ta noi gương bắt chước trong lúc gặp thử thách, để có thể quảng đại đáp trả lại lời mời gọi của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Thậm chí khi chúng ta vừa thất bại cả về lòng quảng đại lẫn sự trung tín, chúng ta có thể chạy đến với Mẹ để xin sự hướng dẫn, hầu có thể trở về đường lối của Chúa đã được dành sẵn cho chúng ta, và cuộc đời Mẹ sẽ khuyến khích chúng ta làm tốt hơn trong tương lai. Cần biết rằng hầu hết các Ki-tô hữu không chấp nhận Mẹ Maria như một mẫu gương và nguồn cảm hứng, nhưng chỉ đến với Mẹ để được giải gỡ những khó khăn, có thể nói như vậy!

Ngày 26/3

“Chúa Thánh Thần là Đấng tác thành và kiện toàn Đức Giê-su Ki-tô nơi chúng ta.” [ ]

Trước khi rời bỏ các môn đệ, Đức Giê-su đã hứa rằng: Người sẽ không bỏ các ông mồ côi nhưng sẽ gửi Thánh Thần đến với các ông, và chính Thánh Thần sẽ nhắc nhở các ông về tất cả những gì Người đã dạy. Các môn đệ đã hiểu ra được nhiều điều do Đức Giê-su chia sẻ mà trước đây các ông cảm thấy khó nắm bắt và khó thực hành- đặc biệt là những điều liên quan đến việc chịu đau khổ vì Nước Trời! Và thường thì hầu hết các ông cảm nhận rằng đó là những việc khó thực hành, các môn đệ đã kìm lại để không hỏi Người về ý nghĩa đích thực cũng như những ẩn ý trong cuộc đời mình. Các ông vui sướng vì không để ý đến lời dạy đó, vì nếu các ông xin giải thích thì các ông sẽ bị buộc phải tuân giữ (Mc 9,32).

Thế nhưng, nếu các ông thực sự ao ước trở thành những người môn đệ, thì không còn con đường nào khác ngoài con đường khổ giá; các ông cần đón nhận con đường ấy bằng cả tấm lòng. Bấy giờ, khi lời hứa ban Thánh Thần được thực hiện, các ông sẽ được gợi nhắc về những chân lý khó hiểu, cụ thể là những gì thường xảy ra trong cuộc đời các ông. Tuy nhiên, có một ưu điểm khi đón nhận Thần Khí: Ngài sẽ không chỉ dạy các ông về những chân lý cần thiết, nhưng còn ban thêm sức mạnh và giúp các ông can đảm sống các chân lý ấy. Sách Công vụ Tông đồ đưa ra một bằng chứng đầy đủ về sự can thiệp của Thần Khí trong cuộc đời của những Ki-tô hữu thời sơ khai, giúp họ đón nhận thập giá được gửi đến cho mình.

Thậm chí trong một thời đại khi mà vai trò và quyền năng của Thần Khí không được các Ki-tô hữu biết đến, cha Eymard có thể khuyên những người con linh hướng của mình đừng chối bỏ ơn trợ giúp mà Đức Giê-su đã ban cho các môn đệ của Người. Sau hết, nếu ai tìm cách để thăng tiến trong đời sống thiêng liêng, thì người ấy phải tận dụng tất cả những nguồn trợ giúp mà Thần Khí ban cho. Thế nhưng, nếu các Ki-tô hữu ở mọi thời đại có thể kêu cầu Thần Khí thường xuyên và liên lỉ hơn, thì họ lại chẳng tìm được nhiều lợi ích sao? Lý do là khi cầu xin sự trợ giúp của Thần Khí được nắn đúc trong Đức Ki-tô, người khẩn nài không thể không để ý đến sự hiện diện của Thần Khí.

Điểm mấu chốt mà các Ki-tô hữu cần trở nên giống Đức Ki-tô đó là sự vâng phục của họ đối với Chúa Cha, thậm chí khi phải đối diện với đau khổ của bản thân. Chúng ta nhận thấy chính các tông đồ đã khéo léo tránh né thập giá trong cuộc đời họ thế nào, không chỉ khi Đức Giê-su bị bắt, nhưng cả khi chính các ông phải đối diện với thập giá ấy. Nếu chúng ta không cảnh tỉnh và canh chừng, thì chính chúng ta cũng sẽ làm tương tự như vậy và đánh mất những nguồn trợ giúp mạnh mẽ cho việc thăng tiến trong đời sống thiêng liêng. Nhiều tác giả viết về đường thiêng liêng ngày nay đề nghị rằng: mỗi sáng, chúng ta xin Chúa ban cho ta một sự khiêm nhượng trong suốt ngày sống, và cam đoan rằng chúng ta sẽ chân thành và thực lòng đón nhận nó, sẽ không có con đường nào tốt hơn để thăng tiến về đường thiêng liêng. Nghịch lý Ki-tô giáo luôn luôn là: đánh mất chính bạn và bạn sẽ tìm được sự sống mới, sự sống trong Đức Ki-tô- trong tất cả sự viên mãn. Hễ ai cầu nguyện như vậy thì phải sẵn sàng đón nhận những chông gai phía trước! Thế nhưng, chắc chắn sẽ có bằng chứng xác thực về sự trợ giúp của Thiên Chúa cũng như sự hiện diện nâng đỡ của Ngài!

Ngày 27/3

“Đức Giê-su Ki-tô muốn mọi người tôn trọng và yêu thương anh chị em của Người.” [ ]

Một trong những hiệu quả chính yếu của Thánh Lễ mà chúng ta cử hành cũng như nội tâm hóa trong việc cầu nguyện trước Thánh Thể chính là sự hiệp nhất, chúng ta không chỉ ngày càng được hiệp nhất sâu sắc với Ba Ngôi đến độ chúng ta dâng hiến chính mình vào tay Ngài, nhưng chúng ta còn được biến đổi để trở nên ‘một thân thể, một tinh thần trong Đức Ki-tô’, sự kết hiệp của chúng ta với thân mình của Đức Ki-tô cũng được đào sâu và được củng cố. Người ta có thể thắc mắc liệu những mối dây này (với các anh chị em Ki-tô hữu của chúng ta theo chiều ngang) có thể xảy ra không nếu như không có sự cộng tác hết mình và nỗ lực chân thành của chúng ta. Có một câu ngạn ngữ thần học cổ thời nói rằng: ‘Giáo hội làm nên Thánh Thể và Thánh Thể làm nên Giáo hội’, điều ấy ngụ ý rằng nếu chúng ta không có một cộng đoàn đức tin, thì chúng ta không thể có Thánh Thể. Thế nhưng cùng lúc ấy, chính Thánh Thể mà chúng ta cử hành lại làm cho Hội thánh trở thành Thân Thể của Đức Ki-tô. Việc cử hành mang tính cá nhân sẽ tạo ra một nhóm Ki-tô hữu sống theo chủ nghĩa cá nhân.

Tuy nhiên, chúng ta cần ghi nhớ trong đầu rằng các yếu tố bánh và rượu không cản trở Đức Ki-tô biến đổi chúng thành chính Thân Mình Người. Chúng ta, những con người, có thể đóng khung tất cả những nỗ lực của Người nhằm biến đổi chúng ta ngày càng nên giống Người hơn. Và đó là vì Cái Tôi nơi chúng ta, Cái Tôi bị thúc ép bởi tất cả những nỗi sợ hãi, những quan niệm sai lầm, những thành kiến và những thứ khác, cản trở những nỗ lực của Thiên Chúa nhằm biến đổi chúng ta. Và đó là lý do vì sao chúng ta thấy rất nhiều Ki-tô hữu có thiện ý, là những người tham dự Thánh Lễ mỗi ngày và sẽ không từ bỏ việc thực hành này vì bất cứ lý do gì trong thế gian, thế nhưng cũng vẫn còn những con người theo chủ nghĩa cá nhân thậm chí là sau nhiều năm tham dự Thánh Lễ. Thiên Chúa đã ban cho chúng ta một ý chí tự do, tôn trọng những lựa chọn của chúng ta và sẽ không tạo ra bất kỳ sự thay đổi nào trong cuộc đời chúng ta nếu không có sự ưng thuận thật lòng và chân thành của chúng ta.

Một trong những dấu chỉ cho thấy chúng ta ngày càng được trở nên Thân Mình của Đức Ki-tô chính là chúng ta có thể kính trọng mỗi người và mọi người xung quanh chúng ta, thậm chí khi và đặc biệt khi họ không đồng tình với chúng ta. Đặc biệt điều này sẽ trở nên khó khăn khi đối xử với những người chúng ta thương mến và những người thân cận với chúng ta; khi chúng ta nhận ra những người này đang chọn lựa đi sai đường, chúng ta muốn can thiệp ngay lập tức và sửa sai cho họ. Đó là lúc chúng ta cần nhớ lại mẫu gương của chính Đức Giê-su, Đấng có lòng kiên nhẫn vô biên với mười hai môn đệ của Người (cũng như với chúng ta) và với những người Do Thái nói chung, những người cản trở mọi nỗ lực của Người để lôi kéo họ vào trong Giao ước với Chúa Cha. “Giêrusalem, Giêrusalem! Ngươi giết các ngôn sứ và ném đá những kẻ được sai đến cùng ngươi! Ðã bao lần Ta muốn tập hợp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập hợp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu!” (Mt 23,37).

Tuy nhiên, chúng ta tiếp tục yêu thương anh chị em mình và tình yêu này sẽ thôi thúc chúng ta ít ra là dâng họ lên Chúa trong lời cầu nguyện của chúng ta, đợi chờ ‘giờ’ đến. Vì khi giờ của Chúa (kairos) đến, thì không gì có thể cản trở Ngài hoàn tất kế hoạch và dự định của Ngài dành cho chúng ta! Dĩ nhiên, lúc đó, chúng ta cần tiếp tục cầu xin Chủ mùa gặt cho chúng ta thêm kiên nhẫn và tôn trọng những lời đáp trả của những người xung quanh chúng ta.

Ngày 28/3

“Nữ Vương của phòng tiệc ly chính là bến bờ của nhân đức và tình yêu” [ ]

Không có gì là bí mật cả khi cha Eymard dành một tình yêu sâu đậm của người con thảo cho Mẹ Maria. Vào thời trẻ, cha không bao giờ mạo hiểm thực hiện bất kỳ một dự án thiêng liêng nào mà trước hết lại không tìm sự chúc phúc và hướng dẫn của Mẹ. Khi lớn lên, tình yêu của cha dành cho Mẹ Maria trở nên mạnh mẽ hơn và cha đã phát minh ra một tước hiệu mới dành cho Mẹ để nhắc nhớ về ân huệ đặc biệt của cha trong việc sáng lập Dòng Thánh Thể. Cha đã kêu cầu Mẹ dưới tước hiệu ‘Nữ Vương của Phòng Tiệc Thánh’. Mặc dù Kinh Thánh không nói gì về việc Mẹ Maria có hiện diện trong bữa tối sau hết hay không, nhưng cha Eymard nhận ra rằng Mẹ đã ở đó ít nhất là trong tinh thần. Bên cạnh đó, đối với Mẹ Maria, vấn đề không phải là cử hành Thánh Thể cho bằng là sống Thánh Thể và chắc chắn Mẹ đã làm tất cả những điều ấy trong suốt cuộc đời của Mẹ, cụ thể khi Mẹ đứng dưới chân thập giá, cộng tác với Con Mẹ trong công cuộc cứu chuộc.

Vì Mẹ Maria được trao ban đặc ân là được cộng tác với Chúa Giê-su trong công trình cứu độ của Người, nên cha Eymard nhìn nhận Mẹ như ‘những hoa trái đầu tiên’ của đời sống mới mà Chúa Giê-su đã ban tặng cho tất cả chúng ta. Mặc dù cha không dùng từ ngữ quen thuộc hơn với thời đại của chúng ta, ‘Đức Maria, tín hữu đầu tiên’, thế nhưng cha đã nhìn nhận Mẹ là người nhận được lợi ích nhất từ việc Nhập Thể của Chúa Giê-su. Thực tế, những thuật ngữ này có ý nghĩa là Đức Maria là một mẫu người mà Thiên Chúa đã dự định trong tâm trí khi Ngài tạo dựng con người. Vậy thì ai lại không muốn ở gần Mẹ Maria khi Mẹ thực sự là một mẫu gương, một hình ảnh mà mỗi người chúng ta được mời gọi để trở thành cũng như để áp dụng trong cuộc đời Ki-tô hữu của mình?

Đức Maria không chỉ là hình ảnh của những nhân đức mà chúng ta cần thủ đắc với tư cách là những môn đệ của Đức Giê-su, nhưng Mẹ còn dạy cho chúng ta biết cách để đạt đến những nhân đức ấy, đó không phải là một trong những cố gắng được thực hiện bằng nghị lực cá nhân của chúng ta. Thay vào đó, chúng ta cần để cho Thiên Chúa tự do hành động trong cuộc đời của mình để Ngài có thể hoàn tất nơi chúng ta những dự định trong tâm hồn Ngài. Đây là cách làm của Mẹ Maria: ‘Xin hãy làm cho tôi như lời sứ thần nói’ Mẹ Maria không bao giờ thắc mắc về sự khôn ngoan hay quyền năng của Thiên Chúa; Mẹ có thể không chắc chắn về khả năng của chính mình để đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, thế nhưng khi Mẹ đã xác quyết rằng Mẹ không phải làm ‘nhiều’ ngoại trừ việc để cho Thiên Chúa tự do, thì Mẹ sẵn sàng dâng tất cả cho Ngài.

Bài học về ‘thụ động-chủ động’ này có thể khó khăn đối với chúng ta ngày nay vì việc nhấn mạnh đến sự hoàn thiện bản thân, thành tựu cũng như những thứ khác trong cách làm hiện đại của chúng ta. Tuy nhiên, khi một người nào đó đã cảm nghiệm được hiệu quả của cách làm này, thì người ấy hầu như sẽ cộng tác hết mình vì cách làm này sẽ sản sinh ra những kết quả tốt hơn và nhanh hơn mà không cần phải cố gắng nhiều. Hầu hết mọi gánh nặng của việc băn khoăn về những gì chúng ta sẽ làm tiếp theo sẽ được đẩy xa khỏi chúng ta; tất cả những gì chúng ta cần làm, đó là: lắng nghe tiếng gọi của Thiên Chúa đang kêu mời chúng ta, và tiếp đến là việc đáp trả một cách trọn vẹn và quảng đại. Thế nhưng, nhiều khi điều này có thể là rất khó, vì chúng ta ảo tưởng rằng ‘chúng ta’ đã đạt được điều gì đó vĩ đại!

Ngày 29/3

“Mảnh đất nguyên tuyền bao giờ cũng sinh nhiều hoa trái hơn mảnh đất dùng nhiều kỹ thuật” [ ]

Theo một nghĩa nào đó, lời nhận xét của cha Eymard xây dựng trên những gì đã được nói đến trong những bài suy niệm trước. Mọi người chúng ta đều tìm cách tạo ra một mùa gặt bội thu dựa trên chính những kỹ thuật và sự cần cù của mình. Tuy nhiên, thực sự thì chúng ta chỉ thành công trong việc kìm hãm bất kể sự tăng trưởng nào có thể bị thay thế, vì Cái Tôi nơi chúng ta thì quá xảo quyệt đến nỗi không một việc gì chúng ta có thể làm mà không bị chi phối bởi Cái Tôi một cách nào đó. Thế nhưng khi chúng ta để cho Thiên Chúa làm việc nơi chính mình mà không gây ra bất kỳ cản trở hay ngáng trở nào trên con đường của Ngài, thì những cơ hội đó là: công việc ấy sẽ mau chóng được hoàn thiện. Dĩ nhiên, dù vẫn còn những khiếm khuyết, nhưng nó không xuất phát từ Thiên Chúa mà từ sự cộng tác sai lầm của chúng ta.

Thành ngữ mảnh đất ‘nguyên tuyền’ có thể được hiểu như mảnh đất không có những hạt giống được gieo trồng trước đó. Nó cũng có thể mang ý nghĩa là mảnh đất ‘nguyên tuyền’ này tự thân  không thể làm bất kỳ điều gì có giá trị; nó hoàn toàn tùy thuộc vào sản phẩm mà Ông chủ làm ra. Việc canh tác mảnh đất này luôn luôn thuận lợi hơn vì những bất lợi sẽ ít hơn. Thế nhưng, chúng ta phải khẳng định rằng hiểu theo cách này thì rất khó cho đến khi một ai đó thực sự bắt đầu cộng tác với Thiên Chúa như một khí cụ dễ uốn nắn; người ấy cũng cần nhận ra từ chính kinh nghiệm rằng không còn cách nào tốt hơn cả. Bởi lẽ, chúng ta chỉ dựa vào sự thông minh của loài người thì chúng ta không thể có được năng suất cao khi chúng ta vẫn còn thụ động; chúng ta nhìn nhận mình như những con người, những khí cụ thông minh có khả năng suy nghĩ và tự mình hành động. Dẫu sao, khi chúng ta cộng tác với Thiên Chúa, chúng ta cần phải trở nên những khí cụ (những đầy tớ vô dụng) và để cho Ngài sử dụng những kỹ năng và sức mạnh của chúng ta theo những dự định của Ngài vốn vượt xa sự hiểu biết của chúng ta.

Lý do giải thích sự khác biệt này, đó là: khi cùng làm việc với Thiên Chúa, chúng ta dựa vào một kế hoạch khác, một cấp độ mà ‘đường lối của Ta không phải đường lối các ngươi. Trời cao hơn đất bao nhiêu, thì tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng của các ngươi bấy nhiêu’ (Is 55,8-9). Chẳng phải chúng ta hoàn toàn đạt đến sự sâu thẳm khi đối diện với những vấn đề tâm linh sao? Như Chúa Giê-su đã phán: ‘Thật! Thầy bảo thật anh em, nếu anh em không trở nên giống trẻ thơ thì sẽ chẳng được vào Nước Trời’ (Mt 18,3). Mảnh đất nguyên tuyền thì cũng vậy, sẵn sàng để chịu nhào nặn và được mài dũa giống như cục đất sét theo ý của người thợ gốm. Chúng ta càng học để biết cách chết đi cho chính mình, chúng ta lại càng dễ dàng để trở nên mảnh đất nguyên tuyền trước mặt Thiên Chúa, Người thợ Cả.

Khi chúng ta cộng tác với Chúa ngày qua ngày, chắc chắn chúng ta sẽ biết được những mầm mống đang nổi lên, trong đó Cái Tôi tìm cách thống trị ước muốn công nhận và động viên, đón nhận lòng biết ơn, so sánh mình với người khác, ghen tị, muốn làm một mình và không muốn làm việc theo nhóm. Mỗi khi chúng ta làm như vậy, chúng ta sẽ dâng tất cả những điều đó vào tay Chúa để xin Ngài loại bỏ và làm cho chúng ta sinh nhiều hoa trái hơn. Và bấy giờ chúng ta hãy bước theo con đường mà chính Thiên Chúa đề nghị chúng ta với những kết quả hấp dẫn!

Ngày 30/3                              

“Ân huệ trong các ân huệ chính là lòng tôn sùng Thánh Thể.” [ ]

Vào thời đại ngày nay, chúng ta ý thức rằng Thánh Thể có thể được hiểu theo hai nghĩa chính, không mâu thuẫn nhưng hoàn thiện lẫn nhau. Điều này ám chỉ đến sự hiện diện của Đức Giê-su nơi Thánh Thể và hai ý nghĩa ấy được đề cập đến như là sự hiện diện ‘tĩnh tại’ và ‘năng động’ của Đức Giê-su nơi Nhiệm Tích Thánh. Vì thế, trong lời khẳng định của cha Eymard, điểm quy chiếu trực tiếp chính là sự hiện diện năng động của Đức Giê-su, chứ không phải là khía cạnh nào khác.

Nội dung của hạn từ ‘devotion’ (tạm dịch: lòng tôn sùng) có thể được diễn tả như sau: tình yêu dành cho, gắn kết vào, cam kết với,… Vì thế, lòng tôn sùng Thánh Thể sẽ khuyến khích chúng ta đi vào sự năng động và hiểu được lý do vì sao Đức Giê-su hiện diện với chúng ta dưới một cách thức chân thật. Đức Giê-su không để lại cho chúng ta sự hiện diện của Người nơi Nhiệm Tích Thánh Thể chủ yếu là để cho chúng ta có thể thờ lạy Người; nhưng khát vọng cao cả của Người chính là để biến đổi chúng ta thành những người mà theo cách gọi của cha Eymard chính là ‘những người tôn thờ đích thực’, những con người dập khuôn theo tâm hồn của Người. Bởi vậy, cốt lõi của cuộc đời Đức Giê-su với tư cách là Đấng Sáng Tạo và Đấng Cứu Độ chính là Người đã vâng phục Chúa Cha cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên thập giá! (x Pl 2,5-11). Vì thế, lòng tôn sùng Thánh Thể của chúng ta phải biến chúng ta trở nên giống Đức Giê-su, trước hết và trên hết qua khía cạnh mối tương quan của Người với Chúa Cha.

Sự vâng phục chân thành đầy tình con thảo đối với Chúa Cha không phải là một điều gì đó mà chúng ta có thể đạt được bằng chính sức lực của mình, vì khi từ bỏ chính mình hầu như chúng ta sẽ trở thành chủ thể đối với Thiên Chúa hay thậm chí là đối với người khác. Chính Thần Khí hiện diện trong chúng ta mới là Đấng có thể linh hứng và thêm sức để chúng ta vâng phục bằng tình yêu. Tuy nhiên, chúng ta có thể nói rằng ân huệ này chứa đựng trong ân huệ mà Chúa Cha tuôn đổ trên chúng ta qua Phép Rửa, vì nếu Ngài đã tuyển chọn chúng ta trong Đức Ki-tô, thì Ngài cũng sẽ ban cho chúng ta ân huệ biết vâng phục. Vì vậy, ân huệ dâng hiến này luôn luôn hiện diện nơi mỗi Ki-tô hữu. Điều quan trọng là Ki-tô hữu chọn lựa để hành động dựa trên ân huệ này, và đây là điều làm nên sự khác biệt!

Vì thế, trong hạn từ ‘devotion’, chúng ta cần kể đến yếu tố của sự ngọt ngào, niềm vui, khát vọng tha thiết,… đối với việc dâng hiến mà chúng ta thực hiện qua việc vâng phục Chúa Cha. Khi việc dâng hiến này trở thành một thái độ quen thuộc nơi chúng ta, khi nó là sự yêu thích tự phát của chúng ta, thì khi đó chúng ta có thể nói rằng ân huệ của lòng tôn sùng đang diễn ra nơi chúng ta. Đó là lúc chúng ta cần phải tạ ơn Chúa Cha vì Ngài đang lôi kéo chúng ta bước theo Đức Ki-tô, vì đây là toàn bộ công trình của Ngài nơi chúng ta. Chắc chắn điều này có thể được gọi là ‘ân huệ của các ân huệ’ vì thái độ của việc dâng hiến bằng tình mến sẽ kéo dài và giúp chúng ta đứng vững trong mọi hoàn cảnh. Và nếu chúng ta dâng hiến cho Chúa Cha trong mọi sự giống như Đức Giê-su, thì chúng ta lại không thể nói như thánh Phao-lô: ‘Tôi sống, nhưng không phải tôi sống mà là chính Đức Ki-tô sống trong tôi!’ (Gl 2,20). Bấy giờ, chúng ta cũng trở nên ‘tấm bánh bẻ ra cho một thế giới mới’ và bất cứ nơi đâu chúng ta đến, chúng ta sẽ đem niềm vui và bình an của sự hiện diện cứu độ nơi Đức Ki-tô; người ta sẽ cảm thấy như ở nhà qua sự hiện diện của chúng ta, vì chúng ta mang Chúa trong mình dưới một cách thức hữu hình.

Ngày 31/3

‘Hãy ở lại dưới chân của Nhiệm Tích Thánh Thể’ [ ]

Đối với cha Eymard, có lẽ được trao ban như một ân huệ đặc biệt, Thánh Thể luôn luôn là chính con người Đức Giê su chứ không phải chỉ là sự hiện diện khách thể thực sự của Ngài ở bên ngoài. Chính nơi Bí Tích Thánh Thể mà chúng ta gặp gỡ con người Đức Giêsu, Chúa phục sinh, Đấng đang sống một cách thực sự và tròn đầy giữa chúng ta. Và điều Ngài mong muốn nhất khi ở lại với chúng ta nơi Bí Tích Thánh Thể chính là chúng ta tương quan với Ngài như một nhân vị, qua cuộc đối thoại cá nhân và tình yêu của hai bên dành cho nhau. Nếu không có niềm tin sâu đậm và sống động, mức độ tương quan với con người Đức Giêsu sẽ thật là khó đối với các Ki-tô hữu, tuy nhiên, nếu chúng ta thường xuyên tự nhắc nhở mình về sự hiện diện cá nhân của Đức Giêsu, thì sẽ làm cho điều đó trở nên dễ dàng hơn.

Hơn nữa, điều đó cũng sẽ làm cho việc cầu nguyện của chúng ta đơn giản và hiệu quả hơn. Đơn giản là bởi vì không có gì đơn giản hơn việc đáp trả lại một người bạn yêu dấu mà chính chúng ta nhận ra sự hiện diện của người ấy. Chúng ta sẽ không cần những lời lẽ thanh tao và những lời nguyện dài dòng mà chúng ta thường bám vào đó như thể là muốn gây ấn tượng đối với Thầy chí thánh của chúng ta. Tất cả những gì chúng ta cần, đó là: một con tim rung động với tình yêu và điều đó sẽ đảm bảo cho mối hiệp nhất của chúng ta với Đức Giê-su, Đấng đang hiện diện ở đó với chúng ta, cho dù chúng ta không nói một lời nào cả.

Tuy nhiên, khi chính Đức Giêsu thu hút sự chú ý của chúng ta để liên kết tình yêu của chúng ta dành cho Ngài với tình yêu dành cho anh em của chúng ta, thì điều quan trọng cần đảm bảo đó là: trong lúc chúng ta dành thời giờ để trò chuyện với Đức Giêsu, thì chúng ta không ở lại trong sự bất hòa với bất kỳ anh em nào của mình ít nhất là không phải một cách ý thức và tự do. Chúng ta nhớ lại lời răn dạy của Đức Ki-tô: “Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (Mt 5,23-24). Là con người, nhiều lần chúng ta sẽ gặp khó khăn, không nghi ngờ gì, nhưng chúng ta làm cho những tương quan căng thẳng ấy trở thành chủ đề cho cuộc đối thoại và trò chuyện của chúng ta với Chúa.

Ngạc nhiên biết bao khi sự hiện diện của Đức Giê-su có sức mạnh rút ra điều tốt nhất nơi chúng ta, thậm chí khi chúng ta đang phải chiến đấu trong một thời gian dài để loại bỏ khỏi mình những ngáng trở bằng sự khéo léo của chính chúng ta. Quả thực, chẳng có gì mà Đức Giê-su không thể làm nơi một con người biết mở lòng ra đón nhận tình yêu biến đổi của Ngài. Vì thế, chúng ta cần thực hiện sự hiệp nhất này ở hai cấp độ: sự hiệp nhất cá nhân của chúng ta với Đức Giê-su nơi Bí Tích Tình Yêu, cũng như sự hiệp nhất của chúng ta với tất cả mọi người, nhưng đặc biệt là với những người chúng ta giao tiếp hằng ngày. Vì suy cho cùng, tình yêu của chúng ta đối với người thân cận sẽ luôn luôn là sự thử thách về sự chân thành cũng như chiều sâu của tình yêu mà chúng ta dành cho Thiên Chúa. Thánh Gio-an nhắc nhở chúng ta “Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Ðây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Người: ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình.” (1 Ga 4,20-5,1).

Bản dịch của Lm. Martinô Nguyễn Trung Hiếu, sss