Image default

365 ngày với cha thánh Eymard – tháng 1

Ngày 1/1
“Dòng Thánh Thể không dừng lại ở việc tôn thờ, yêu mến và phụng sự Thiên Chúa nơi Bí Tích Thánh Thể: lòng hăng say của Hội Dòng đối với vinh quang của Người đó là khao khát làm sao cho Người được mọi người thờ lạy, yêu mến và phụng sự, và để xây dựng cho Người những ngai tòa tình yêu cũng như để quy tụ những người thờ lạy trung thành đến với Người. Chúa Giê-su đã từng nói: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy cháy bùng lên!” (Lc 12,49) [tĩnh tâm về ơn gọi Thánh Thể].
Khởi đi từ việc tìm kiếm “lời giải đáp cho tất cả những căn bệnh của xã hội mà chúng ta đang sống”, cha Eymard cho thấy rõ Tình Yêu là giải pháp duy nhất và cần thiết nhất. Nhưng, đối với những người chọn lựa để theo bước ngài, ngài không chỉ yêu cầu họ nên được đào tạo bằng chính đức mến nền tảng và sống theo những kiểu mẫu của tình yêu mà Thiên Chúa đã dành cho con cái Người; hơn thế, ngài còn mong muốn họ sẽ trở thành những tông đồ rao truyền ngọn lửa tình yêu này cho mọi người trên mặt đất.
Cơ sở của khát khao nồng cháy này nơi cha Eymard chính là việc cha nhận ra rằng mọi người đều đang đói khát tình yêu như một thứ làm cho cuộc đời đáng sống. Tình yêu là điều duy nhất mà mọi người cần đến, và thật không may đó lại là phương thuốc mà người ta ít để ý đến. Tình yêu này được tìm thấy trước tiên và trên hết nơi gia đình, trường học đầu tiên của đời sống Ki-tô hữu. Nhưng, dù chỉ liếc qua những thành phố lớn của chúng ta cũng đủ để thuyết phục chúng ta rằng tình yêu chân thật, vô điều kiện lại là một thứ hàng hóa! Khả năng không thể trao ban thứ tình yêu có sức biến đổi này của chúng ta, thậm chí cho những thân bằng quyến thuộc của chúng ta, có lẽ nên được gọi là “tội nguyên tổ” của ngày hôm nay. Dường như, mọi người quá chú tâm đến việc tìm kiếm cái tôi cũng như sự thăng tiến và hoàn thiện của bản thân đến nỗi việc mạo hiểm bước vào một dự án trao ban tình yêu cho người khác dường như lại là một hành trình cực kỳ liều lĩnh và nguy hiểm.
Khi bẻ bánh và trao cho các môn đệ trong Bữa Tiệc Ly, sứ điệp chính yếu của Đức Ki-tô chính xác là: những môn đệ của Ngài không nên đợi chờ để được yêu mến, nhưng họ phải yêu mến người khác trước. Được đảm bảo bằng chính tình yêu của Đức Ki-tô, họ sẽ ra đi và yêu mến những kẻ thù, thậm chí là sẽ trở nên “tấm bánh bẻ ra cho một thế giới mới”.
Vì thế, hành vi tạ ơn lớn lao nhất mà chúng ta có thể dâng lên Chúa Giê-su vì tình yêu vô bờ bến Ngài dành cho chúng ta chính là chúng ta yêu thương anh em mình, đặc biệt là các thành viên thuộc chi thể Đức Ki-tô. Một tu sĩ Thánh Thể phải bày tỏ khả năng bao la của mình để trao ban tình yêu một cách không ngừng nghỉ, đặc biệt tại những nơi và cho những người đã biết tạ ơn, những nơi chưa biết ơn và chưa biết đáp đền. Tìm kiếm không phải để “được yêu” cho bằng là phải yêu, người tu sĩ Thánh Thể thắp sáng những tâm hồn bằng ngọn lửa tình yêu, để qua bản chất của ngọn lửa ấy, loan báo cho người khác về sự nhân từ tuyệt đối vốn có.
 
Ngày 2/1
“Hãy cầu xin để chúng ta có thể trở nên những môn đệ đích thực cho tình yêu của Đức Giê-su Ki-tô, để một ngày kia chúng ta trở nên những tông đồ xứng đáng” [Gửi cho A.Adele de Revel de Nesc, tháng 5 năm 1856]
Có lẽ đóng góp vĩ đại nhất của cha Eymard cho Giáo Hội vào thời của ngài chính là sự nhấn mạnh có tính kiên định và bền bỉ của cha về Tình Yêu như một thực tại cốt yếu của đời sống Ki-tô giáo. Để hiểu được giá trị cao cả của quan niệm này của ngài, chúng ta cần nhớ lại đời sống tinh thần của Ki-tô hữu trong những thế kỷ 18-19. Sau cuộc Cách mạng Pháp, hầu hết mọi người dường như ‘vô tình vất bỏ cái quý giá trong đống lộn xộn cần vất đi’. Dân chúng được giáo dục rằng “vương quyền của những vị vua” cai trị người nghèo bắt nguồn từ chính kế hoạch của Thiên Chúa như đã được Hội Thánh dạy. Điều này gây ra một phản ứng thô bạo chống lại Thiên Chúa và tất cả những việc thực hành của đạo Công giáo. Vì thế, theo sau cuộc cách mạng này, có hai khuynh hướng trái ngược nhau nảy sinh nơi những Ki-tô hữu.
Khuynh hướng thứ nhất chính là xa lánh mọi hình thức tôn giáo và điều khiển thế giới bằng những nguồn nhân lực mới được hình thành, nhiều khía cạnh của khuynh hướng thứ nhất này được liên kết với Cuộc Cách Mạng Công Nghiệp. Có lẽ, nạn nhân chính của sự biến động đột ngột này chính là nước Pháp, một đất nước được biết đến với tên gọi “trưởng nữ của Hội Thánh!”. Phần lớn dân chúng Pháp đã từ bỏ mọi thứ liên quan đến Thiên Chúa và tôn giáo. Khuynh hướng thứ hai được xem như một phản ứng chống lại thái độ của những người theo chủ nghĩa thế tục gây ra nơi một vài Ki-tô hữu trung thành xu hướng đối nghịch của việc “đền tội” cho tất cả tội lỗi của thế gian! Khuynh hướng tán thành việc khổ chế thân xác và đền tội sau này chịu ảnh hưởng của lạc giáo Jasenis vốn bao trùm khắp Hội Thánh. Cụ thể, lạc giáo này cổ võ một đời sống đền tội nghiêm khắc với việc chú trọng đến những việc hành xác được thực hiện chủ yếu trong việc đền tội.
Lớn lên trong bầu khí tinh thần mang tính tiêu cực này (gia đình của cha chịu ảnh hưởng sâu đậm của bầu khí ấy), thật là kinh ngạc khi cha Eymard, ngay từ những giai đoạn đầu của cuộc đời, đã có thể xa tránh những khuynh hướng tinh thần lầm lạc này và cổ võ việc thực hành tích cực của tình yêu như một điều duy nhất có tầm quan trọng. Nhận ra những dư thừa to lớn này, cha đã phải chống trả lại, cha đã tìm kiếm những người sẵn sàng trở nên những môn đệ đầu tiên, được đào luyện nhờ Tin Mừng để đạt đến tình yêu. Chính những người môn đệ mà cha hy vọng này sẽ ra đi và trở thành những tông đồ của tình yêu, loan truyền ngọn lửa của tình yêu Thiên Chúa cho mọi người.
Sự hiểu biết của cha Eymard về vai trò thiết yếu của tình yêu là một điều gì đó đặc biệt và khác biệt mà cha phải đem đến cho thế gian, ngay cả khi điều đó không mới mẻ gì cả. Chính cha đã dựa vào Kinh Thánh, đáng chú ý là những tác phẩm của thánh Gioan và thánh Phao-lô. Thật là tuyệt vời nếu ngày nay chúng ta, những tu sĩ Thánh Thể, cũng có những điều đặc biệt và khác biệt để đem đến cho thế giới công nghệ cao và đang từng bước toàn cầu hóa của thế kỷ 21 này! Phải chăng chúng ta đang có được sự hiểu biết sâu sắc về bản tính nội tại của Thiên Chúa vốn là câu trả lời thích hợp nhất cho những vấn nạn của thời đại chúng ta?
 
Ngày 3/1
“Thánh Thể chính là triều đại của Đức Giê-su Ki-tô nơi trần gian và đặc biệt nơi những tâm hồn của con cái Ngài. Nơi đó, bạn sẽ bắt gặp được sứ vụ tuyệt vời và hấp dẫn của những tu sĩ Thánh Thể; môn đệ và tông đồ của Tình yêu Thánh Thể: Đó chính là tên thật của người tu sĩ ấy, ân sủng và sự sống của người ấy. [tĩnh tâm về ơn gọi Thánh Thể]
Thật không may vì đối với nhiều Ki-tô hữu ngày nay, Thánh Thể đơn thuần chỉ là một hành vi phượng tự được thực hiện bằng những cảm xúc sâu lắng của lòng đạo đức và sự tôn sùng, nhưng lại ít có sức mạnh để kéo dài những lễ nghi của Hội Thánh. Khi tìm hiểu xem vì sao Đức Giê-su lại ban tặng Thánh Thể cho chúng ta, chúng ta nhận ra rằng Ngài không có ý định ban tặng cho chúng ta chỉ đơn thuần là chính Ngài để làm an lòng chúng ta trong những giai đoạn bị bắt bớ. Khi khía cạnh của sự an ủi này không thể được xem xét, điều quan trọng nhất trong tâm trí của Ngài đó là: sự hiện diện vĩnh cửu của Ngài giữa chúng ta sẽ là một nguồn cảm hứng để chúng ta có thể làm cho sự trao ban chính mình cũng như hóa mình nên không của Ngài lan rộng đến toàn thể nhân loại. Chỉ bằng cách sống từ bỏ chính mình mới có thể đem đến cho một thế giới mới, nơi mọi người đang sống, một nhân phẩm và sự bình an! Chính vì điều đó mà Ngài ao ước triều đại tình yêu sẽ lan rộng cho khắp nhân loại.
Đức Giê-su đến để đối thoại với con người, để tìm kiếm những con người dường như đã mất và bị bỏ rơi, để làm bạn với những con người bên lề xã hội, những người nghèo, những người bị phân biệt đối xử, để phục hồi nhân phẩm cho những con người bị xem là cặn bã của xã hội. Ngài muốn tỏ ra cho hết mọi người rằng họ được dựng nên giống hình ảnh của Chúa Cha, Đấng yêu thương mỗi người bằng chính tình yêu cá nhân đặc biệt. Các tu sĩ Thánh Thể phải làm cho sứ vụ của Đức Giê-su tồn tại mãi.
Thật là một sứ vụ tuyệt vời được trao phó cho Dòng Thánh Thể, và thật là thách đố biết bao! Như luật sống số 7 của chúng ta có nói: “… Tư thế sẵn sàng, việc quan tâm chia sẻ và hiệp thông của chúng ta cho thấy sự hiện diện của Chúa Phục sinh. Chúng ta trở nên những chứng nhân của Đức Ki-tô qua việc hiến mình làm người phục vụ anh em”.
Việc chung tay thiết lập vương quyền Thánh Thể của Đức Giê-su nơi những tâm hồn và cuộc đời của mọi người vốn là chuyên môn của chúng ta, phải được thể hiện ở vô số các hình thức phục vụ mà chúng ta hướng đến anh em mình. Đây là “sợi chỉ vàng” nối kết tất cả linh đạo và hoạt động tông đồ Thánh Thể. Nhân dịp mừng kỷ niệm 200 năm ngày sinh của cha Eymard, chúng ta đương đầu với thách đố này để đem đến cho mọi người một sự cảm nếm về tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa, một tình yêu ngày càng trở nên hữu hình và đụng chạm được.
Quả thực, nếu phẩm chất này nổi bật lên trong đời sống của Dòng Thánh Thể, chúng ta sẽ cần thực hành điểm mấu chốt của Thánh Thể một cách siêng năng: Mầu Nhiệm Vượt Qua, hay là việc chết đi cho cái Tôi hoặc cái Bản ngã trong cuộc đời mình. Đây là ưu tiên của cha Eymard -Quà Tặng Bản Thân mà cha dâng lên Đức Giê-su thậm chí là đưa đến việc cam kết lời khấn thứ 4, Lời Khấn Nhân Cách! Rõ ràng, cha đã tự biến mình trở nên “như cục đất sét trong bàn tay của người thợ gốm”, hoàn toàn ký thác cho Thầy mình tất cả những gì Ngài muốn nơi các môn đệ và tông đồ của Ngài!

 

Ngày 4/1
“Hãy tìm cho tôi một vài người nhiệt huyết trong số các học sinh của ngài để phục vụ Hội Dòng mới” [gửi cho l’Abbe Bramerel, tháng 11 năm 1854]
Ý thức sâu xa về việc được tuyển chọn cũng như được trao phó một cách đặc biệt sứ vụ loan báo tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa dành cho mọi người dưới hình thức nhân loại, cha Eymard đã mau chóng khám phá ra rằng cha phải đối diện với một nhiệm vụ khó khăn. Như chính Chúa Giê-su đã phán “lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít… (Mt 9,37), vì thế cha Eymard cũng mời gọi các bạn hữu thân thiết của mình, những người mà cha biết rằng sẽ hiểu được những ý định của cha và tính khẩn thiết đằng sau những ý định ấy, gửi đến cho cha những tân binh đầy nghị lực; vì thế cha hy vọng sẽ hình thành một trung tâm của “những người nhiệt huyết” theo đuổi lý tưởng là được trở nên những sứ giả của tình yêu.
Thật không may là trong suốt cuộc đời của cha, kinh nghiệm của cha về vấn đề này không khác gì với chính Đức Giê-su, cũng như với chính chúng ta ngày nay. Trong mọi trường hợp, những người được tuyển chọn đã không gia tăng như điều mong ước. Đối với cha Eymard, chỉ những ai xứng đáng và hiệu quả mới là những người, giống như cha, được trao cho sứ vụ này để họ sẵn sàng hy sinh mọi sự, kể cả cuộc sống mình vì sứ vụ đó. Thực tế, điều đó có nghĩa là không thể bỏ qua “lời khấn bản vị” mà chính cha đã cam kết dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần. Tuy nhiên, cha không bao giờ áp đặt lời khấn này trên các môn sinh của mình, vì cha hiểu rằng đó là một ân huệ đặc biệt được Chúa Cha ban tặng cho một số người.
Tuy nhiên cần chú ý rằng mặc dầu những mong muốn của cha hoàn toàn chính đáng và phù hợp với việc bày tỏ tình yêu của chính cha đối với Đức Ki-tô, nhưng Thiên Chúa lại không muốn “cả thế gian này” được đốt nóng bằng sự đáp trả đầy yêu thương đối với quà tặng tình yêu quảng đại của Ngài. Lý do giải thích điều này thật rõ ràng. Tình yêu không thể bị ép buộc và cho tới khi người ta nhận ra, thì có lẽ phải qua một kinh nghiệm sâu sắc và cá nhân, những ẩn ý trong tình yêu vô điều kiện của Chúa Cha dành cho người ấy, thì sự kết hiệp với Đức Ki-tô của người ấy sẽ mãi là một điều gì đó hết sức hời hợt. Chính Đức Giê-su đã phán: “Không ai có thể đến với Thầy mà không được Chúa Cha lôi kéo” (Ga 6,44/45); khi ấy việc được mời gọi vào sứ vụ của tình yêu cũng là một ân huệ cao cả và đặc biệt từ Chúa Cha. Nhưng điều này không miễn cho cha Eymard khỏi những nỗ lực cần thiết để đến với tất cả mọi người.
Tuy thế, chẳng bao lâu khi một người nào đó nhận ra được ý nghĩa sâu xa mà ân huệ này muốn ám chỉ tới: một sự thinh lặng tuyệt vời trong tất cả những sự thinh lặng tác động đến con người thời đại chúng ta, nhưng dần dần người ta lại rơi vào sự đam mê của cải vật chất, quyền lực và thành công ở trần thế, phóng túng vào việc cai trị nhẫn tâm và bóc lột người khác- chẳng lẽ người ta lại có thể quay mặt đi và tận hưởng tài sản này chỉ cho riêng mình? Thay vào đó, theo lẽ tự nhiên người ta sẽ được thảnh thơi, an nhàn thư thái, nghĩ ra những cách thức và phương tiện tài tình để chuyển tải ‘chân lý’ thực sự đến với những người xung quanh, đặc biệt là những người mà họ quan tâm đến. Và trong công việc khó khăn này, đau khổ sẽ không quá lớn, không đòi hỏi nhiều nỗ lực- tất cả là vì tình yêu mà người ta bày tỏ ra đối với Ông chủ.
 
Ngày 5/1
(Sắc lệnh Tán thưởng của Đức Thánh Cha Pi-ô IX, năm 1859)
Giờ đây chúng ta sẵn sàng chuẩn bị cho hai nhiệm vụ lớn của Hội dòng, đời sống chiêm niệm… và đời sống hoạt động của lòng hăng say đối với Thánh Thể… nói một cách đơn giản, đó là thắp lên lửa Thánh Thể nơi mọi tâm hồn.” [Gửi cho Ma-gơ-rít đờ la Bu-in-lơ-ri, tháng 6/1856]
Trong Tin Mừng Gioan, Đức Giê-su phán rằng “Thật, tôi bảo thật các ông, người Con không thể tự mình làm điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm; vì điều gì Chúa Cha làm, thì người Con cũng làm như vậy. Quả thật, Chúa Cha thương mến người Con và tỏ cho người Con thấy mọi điều mình làm, lại sẽ còn tỏ cho người Con thấy những việc lớn lao hơn nữa, khiến chính các ông cũng phải kinh ngạc” (Ga 5,19-20). Chính Đức Giê-su đã đề cập đến hai khuynh hướng này trong cuộc đời của Người, nghĩa là trước tiên Người nhìn, quan sát, cảm nếm những gì Chúa Cha làm, sau đó trong suốt sứ vụ ở dương thế, Người cũng làm giống như vậy. Chúa Cha luôn là nguồn mạch và cội nguồn cho tất cả những gì chúng ta là và làm.
Vì thế chẳng ngạc nhiên khi người tu sĩ Thánh Thể cũng phải lưu ý đến hai chiều kích này trong cuộc đời dâng hiến của mình: chiều kích chiêm niệm, qua đó bằng một ‘cái nhìn của tình yêu’, người ấy kín múc tất cả những gì chính Chúa Cha làm, và sau đó là đến chiều kích hoạt động mà qua đó người ấy dập theo cùng một khuôn mẫu công việc của Chúa Cha. Cách làm này mời gọi chúng ta thể hiện phẩm chất cầu nguyện của chúng ta, đặc biệt là thời giờ chúng ta dành để cầu nguyện trước Thánh Thể. Lối cầu nguyện này, không giống với những hình thức cầu nguyện khác của Ki-tô giáo, phải là một điều gì đó đặc biệt. Việc cầu nguyện này bao gồm ngợi khen, thờ lạy, thống hối, tôn thờ, xin ơn,… việc cầu nguyện này tốt nhất khi, giống như cô Maria, chúng ta ngồi dưới chân Chúa để lắng nghe tất cả những gì Người nói với chúng ta. Những điều huyền bí cao trọng này tóm kết trong một cụm từ: ‘cái nhìn của tình yêu!’
Trong việc cầu nguyện này, lắng nghe quan trọng hơn là nói. Đây là thái độ của người môn đệ đích thực ngồi dưới chân Thầy để học hỏi từ Thầy. Đối với chúng ta, những tu sĩ Thánh Thể, việc cầu nguyện trước Thánh Thể của chúng ta là một bầu khí mà qua đó chúng ta học được ‘những bí mật của Nước Thiên Chúa’ (Mc 4,10-11) chỉ được mặc khải cho những ai thiết lập tương quan bạn hữu thân thiết với Đức Giê-su. Và ngày nay, nếu chúng ta không có một điều gì đó ‘đặc biệt’ để chia sẻ với người khác, thu lượm được từ sự gần gũi của chính chúng ta với Chúa, chúng ta sẽ chỉ đơn giản lập lại những cụm từ nhàm chán mà người khác đã nói và đã dạy, như thanh la phèng phèng hay chũm chọe vang rền! Và sẽ chẳng có nhiều uy lực nơi những gì chúng ta chia sẻ! ‘Hạt giống’ chân lý duy nhất mà bản thân chúng ta nhận trực tiếp từ trái tim Thầy, có thể nói như vậy, thì giá trị hơn ngàn lời nói khác được vay mượn từ nhiều tác giả, không quan trọng họ thông minh thế nào, và đó là điều chúng ta sẽ chia sẻ cho người khác một cách hiệu quả.
Khi chính chúng ta suy niệm về những ý tưởng cá nhân thâm sâu này, bấy giờ chúng ta sẽ chuyển trao những ý tưởng ấy cho người khác. Mặc dù được diễn tả bằng những từ ngữ đơn giản, những chân lý này lại chứa đựng một sức mạnh nội tâm và thánh thiện lôi cuốn mọi người- không phải chúng ta, nhưng là tác giả của những chân lý này, là chính Đức Giê-su. Cha Eymard đã luôn luôn nói bằng những ngôn ngữ đơn giản, ngôn ngữ của con tim hơn là bằng những cụm từ và thành ngữ uyên bác thường chỉ kích thích đến đôi tai nhưng ít đụng chạm đến cõi lòng! Người ta có thể và cảm nghiệm được sức mạnh này chỉ khi có một sự chết đi thật sự cho Cái Tôi nơi chúng ta.
 
 
Ngày 6/1
(Giờ Chầu Thánh Thể đầu tiên tại Paris, năm 1857)
Nếu lửa không cháy sáng, thì ngọn lửa sẽ tàn lụi.” [Tĩnh tâm tháng, 11/1860]
Lời khẳng định này của cha Eymard chẳng khác gì một ý nghĩa thông thường cả- thế nhưng làm thế nào chúng ta nhận ra ý nghĩa của nó trong chính đời sống cầu nguyện cá nhân của chúng ta một cách thâm sâu? Nhìn chung cần lưu ý rằng sự nhiệt tình mà chúng ta có trong suốt thời gian nhà tập cũng như những ngày đầu của đời linh mục, thì mãnh liệt hơn những gì được minh chứng trong những năm tiếp theo. Trong khi lửa tình yêu cần được gia tăng trong thời kỳ thuận lợi, thì Cuộc Sống lại cho chúng ta thấy rằng nó ngày càng suy giảm đi- tỉ lệ nghịch với số năm chúng ta trải qua!
Lý do của việc này thì vô số kể. Có một điều là Cái Tôi nơi chúng ta quá khôn khéo và xảo quyệt đến nỗi nếu chúng ta không cẩn thận và kiên nhẫn trong việc bứng tận gốc nó đi, thì nó sẽ gia tăng thay vì giảm bớt. Chúng ta không biết Cái Tôi sẽ thay thế những mục tiêu và mục đích trong kế hoạch và lịch trình của chúng ta, khiến chúng ta chỉ kết thúc ở việc mở rộng “vương quốc” của chính chúng ta hơn là Nước của tình yêu, điều mà chính chúng ta đã cam kết ngay từ đầu. Cái Tôi vẫn ẩn giấu nơi chúng ta làm cho ngọn lửa dần dần và hoàn toàn tàn lụi.
Một lý do khác có thể là khi thời gian trôi qua, chính chúng ta bị lôi kéo vào những hoạt động hấp dẫn bên ngoài- và vì điều này thường hướng đến thành công, tán tụng, công khai,… nên chúng ta sớm nghiện ngập vì nó và rất khó để gỡ bỏ khỏi những điều này. Thậm chí khi Chúa ép buộc chúng ta thoát khỏi tình trạng tội lỗi, thất bại hay bất kể điều gì khác, thì nhìn chung chúng ta đoan chắc rằng chúng ta lại ‘ngựa quen đường cũ’ bao lâu có thể. Chúng ta nhớ rằng điều này cũng thường xảy ra nhiều lần trong cuộc đời của cha Eymard. Cha đã làm việc với ý muốn tốt và những ý hướng ngay lành, thế nhưng trong suốt Kỳ đại Tĩnh tâm ở Rô-ma, chính cha đã nhận ra mình là ‘một kẻ bắt bớ’ Đức Ki-tô (‘Sao-lô, Sao-lô, sao ngươi bắt bớ Ta? Cv 9,4). Chính sự cô tịch và thân mật của cha trong suốt kỳ tĩnh tâm, cũng như việc đánh mất ‘dự án vĩ đại’ để có được Phòng Tiệc Ly, có lẽ đã hình thành nơi cha ước muốn để ‘làm cho Đức Giê-su những gì mà Đức Giê-su đã làm cho Chúa Cha!’
Thật không may, cha chỉ có vỏn vẹn ba năm ngắn ngủi để chỉ cho chúng ta thấy cha đã thắp lửa tình yêu nơi cha như thế nào. Trong suốt những năm này, mỗi phút giây đều có giá trị. Một minh chứng mạnh mẽ về sự nhận thức này nơi cha chính là sự kiện: vào cái đêm mà cha hủy bỏ chuyến đi đến Grờ-nốp trước khi đến La-mure lần cuối, chúng ta biết rằng cha đã viết 17 lá thư hướng dẫn đường tâm linh gửi cho nhiều người. Có lẽ nên biết rằng những lá thư này sẽ là những trao đổi sau cùng của cha với một vài người được chọn, không nghi ngờ gì, cha đã giữ những lá thư này trong một thời gian ngắn, nhưng chúng ta không thể quên rằng trong giai đoạn ấy cha là một bệnh nhân rất đáng yêu!
Chúng ta đã thắp lửa tình yêu nơi mình: trong lúc cầu nguyện, làm việc, giao tiếp với người khác như thế nào? Sự chối bỏ, thất bại, khiêm hạ,… có đem chúng ta xích lại gần hơn với Thiên Chúa; những điều này có phải là ‘một lời mời gọi thức tỉnh’? Chúng ta có cảm thấy sức nóng của tình yêu bừng cháy nơi chúng ta trước khi người khác cũng nhận ích lợi từ hơi ấm của tình yêu?
 
Ngày 7/1
“Bạn luôn luôn được những ân huệ mới… bạn đừng bận tâm về quá khứ, bạn đừng sống lối sống cũ như người ta, vì chúng ta có của ăn luôn luôn mới. Hãy tạ ơn vì những ân huệ trong quá khứ, nhưng bạn có những ân huệ mới… hãy sống giây phút hiện tại […] vì chúng ta không thắp lửa bằng bất cứ cái mới nào, nên đó là lý do vì sao chúng ta không hoàn thành được bất cứ chuyện gì…” [chuẩn bị trước khi Chầu, tháng 8 năm 1860].
Cha Eymard thường được sánh ví với tổ phụ Gia-cóp, luôn luôn lên đường. Đây không chỉ là một điểm nổi bật về mặt thể lý của ngài, nhưng nó còn diễn tả hành trình thiêng liêng của ngài, đặc biệt là sự trưởng thành nội tâm trong đời sống cầu nguyện của ngài. Điều đó cũng cho thấy rằng ngài hoàn toàn ý thức việc mình được trao những công việc không chỉ cần thiết đối với con người trong thời đại ngài, mà còn trong thời đại mới nữa. Vì thế, như Chúa Giê-su, cha Eymard cũng khuyên rằng ‘rượu mới phải đổ vào bầu da mới!’.
Thực tế, không mấy người dám đổi mới và trở nên khác biệt trong cách sống của mình. Hầu hết đều chọn lựa theo lối quen thuộc- một vài người sợ vi phạm những luật lệ của Hội Thánh, số khác thì cho rằng vì “cái mới” không phải lúc nào cũng được những người đã quen thuộc với cái cũ đón nhận (x. Lc 5,39). Dĩ nhiên, cũng có một số khác tránh né những con đường và lối đi mới vì phải nỗ lực – để suy nghĩ về những điểm này cho đến cùng, để liên kết chúng với cái cũ, để tìm ra những điểm so sánh và những điểm tương đồng để giải thích một cách rõ ràng hơn cho người khác. Họ thích dùng cái cũ hơn và chấp nhận cái cũ hơn là tổn hao sức lực để mở rộng cái mới.
Hơn nữa, đối với cha Eymard, không phải ‘có mới nới cũ’ lôi cuốn ngài cho bằng sự nhận ra rằng những ai được trao ban “những bí mật của Nước Trời” không thể che giấu những điều ấy, nhưng phải biết chia sẻ một cách tự do. Không một nơi nào trong nhà của Cha “khép lại” với những đứa con yêu dấu của Người. Thực ra, Chúa Cha làm vui thích những đứa con trung thành của Người trong sự ngạc nhiên qua việc ban cho chúng từ thời này qua thời nọ những cảm nghiệm sâu xa về tình yêu tuyệt vời của Người. Nhiệm vụ yêu thích của chúng ta chính là khám phá những điều này và chia sẻ chúng cho người khác – Bấy giờ thế giới sẽ chẳng trở nên phong phú hay sao?
Cha Eymard còn bảo đảm cho chúng ta rằng khi chúng ta biết cho những con người của thời đại chúng ta những cái mới, thì chúng ta sẽ đạt được những cái vĩ đại. Hầu hết, mọi người trong thời đại chúng ta ưa thích trích dẫn những lời cầu nguyện do người khác soạn ra; hiếm khi họ cầu nguyện từ chính đáy lòng mình, trừ khi gặp rắc rối. Nhận ra sự khó khăn trong việc cầu nguyện cá nhân của họ, chúng ta, những môn đệ và tông đồ Thánh Thể, tốt hơn hết là nuôi dưỡng họ bằng những của ăn luôn luôn mới! Như “các kinh sư” được thánh Mát-thuê nhắc đến, chúng ta cần “lấy từ kho tàng của mình cả cái mới lẫn cái cũ” (Mt 13,52). Và bấy giờ, thành công vĩ đại nhất chính là việc chúng ta sẽ đưa mọi người đi sâu vào vòng tròn nội tâm của tình yêu Thiên Chúa (Ga 4,23-25). Bằng cách này, hay bằng cách khác, điều đó sẽ luôn luôn giúp tiến về phía trước, thông qua gương sống của cá nhân chúng ta. Nếu chính chúng ta không thực sự nỗ lực, chúng ta không thể hy vọng người khác sẽ làm được như vậy – vì một lý do là họ có thể không biết cách, hay không thể nhìn thấy những kết quả có lợi!
 
Ngày 8/1
Thánh Thể là gì? “Đó là ngọn lửa; phải chăng ngọn lửa đang lịm tắt? Ngọn lửa ấy luôn luôn bừng cháy. Khi ngọn lửa bị dập tắt, sẽ không còn sự sống nữa. Hãy đặt ngọn lửa nhỏ bé của bạn bên cạnh ngọn lửa to lớn là chính Thánh Thể” [Chầu Thánh Thể, tháng 6 năm 1861].
Thật là thú vị khi thấy cha Eymard ví Thánh Thể với ngọn lửa đang bừng cháy – bao lâu nó còn đủ nhiên liệu để cháy mãi. Thánh Thể sẽ luôn luôn tuôn tràn trong cuộc đời chúng ta bao lâu chúng ta làm cho mình hiểu được việc cử hành chính là tấm bánh được bẻ ra cho người khác, vì sự sống của thế gian. Thật không may, đối với phần lớn các Ki-tô hữu, Thánh Thể đơn thuần chỉ trở nên của ăn nuôi sống họ – và cũng chỉ như một công việc máy móc, phù phép! Hầu hết mọi người tin rằng bổn phận chính của họ, với tư cách là các Ki-tô hữu, là siêng năng lo cho đời sống tâm linh của mình chứ không phải của người khác.
Hiếm khi các Ki-tô hữu đến với Thánh Thể lại sôi sục một thái độ dâng tiến hoàn toàn theo ý định của Thiên Chúa dành cho họ như chính Chúa Giê-su đã làm. Khi chúng ta đem chính cái tôi của mình đến buổi cử hành, sẽ không đủ nhiên liệu để ngọn lửa Thánh Thể thực hiện công việc của mình là biến đổi con người; những cái túi lớn chứa đựng cuộc đời chúng ta vẫn còn bị che phủ bởi mạng lưới của tội lỗi và cái Tôi, thậm chí khi tội lỗi ấy không gây hại gì cho người khác. Không phải mất thời gian dài để những người này rơi vào tình trạng đề cao cái tôi hay thờ ơ lãnh đạm với vương quốc của tình yêu Thánh Thể. Ngọn lửa trong cuộc đời họ sẽ hoàn toàn bị dập tắt.
Nhưng khi ngọn lửa nhỏ bé, nhưng là ngọn lửa bằng chính tâm hồn chúng ta được nhen nhóm và được kết hợp với ngọn lửa tình yêu của chính Đức Ki-tô – Khi ấy chúng ta sẽ trở nên con người giống như cha Maximillian Kolbe, người đã hy sinh cuộc đời mình vì người khác, hay như Mẹ Tê-rê-sa Caculta, người đã đem niềm an ủi và nguồn cảm hứng đến cho hàng ngàn người qua việc hiến dâng chính mình. Đối với mẹ, Thánh Thể là trung tâm và Mẹ tin rằng Mẹ sẽ không bao giờ có thể đảm đương được một sứ vụ như thế nếu không được sẻ chia từ ngọn lửa tình yêu của chính Thiên Chúa đã dành cho những đứa con đau khổ của Ngài.
Chúng ta có thể hướng dẫn người khác đặt ngọn lửa nhỏ bé của mình vào trong ngọn lửa Thánh Thể vĩ đại qua việc hô hào, thúc đẩy – nhưng điều này chỉ đem lại những kết quả giới hạn. Khi việc hô hào của chúng ta được nối kết với chính gương sống và với chứng nhân trong cuộc đời chúng ta, khi ấy sẽ là một đám cháy lớn. Luật sống số 21 nói: “Được kêu gọi để sống thành cộng đoàn Thánh Thể, nhờ ơn gọi và qua lối sống, chúng ta tìm cách làm chứng rõ hơn nữa về sức sống của Đức Ki-tô, sức sống vẫn tuôn tràn nơi Bí Tích Thánh Thể”.
Và luật sống 37 nói thêm:
Sứ điệp hàng đầu của các cộng đoàn chúng ta chính là cuộc sống chứng tá của các cộng đoàn.
 
 Ngày 9/1
“Mỗi tu sĩ sẽ làm cho tình yêu của Đức Giê-su Ki-tô nơi Nhiệm Tích Thánh Thể trở thành tâm điểm trong những nhân đức của mình, nếu tu sĩ ấy muốn trở thành một môn đệ đích thực và một tông đồ xứng đáng của tình yêu nơi Đức Giê-su Ki-tô” [Dự thảo của Hiến pháp 1856]
Cha Eymard đã viết rất nhiều bản dự thảo về Hiến pháp mà cha mong muốn dành cho các tu sĩ của mình. Mỗi lần làm công việc này, cha đã tìm cách diễn tả rõ nét và đầy đủ hơn về ý tưởng mà cha đã nắm bắt một cách thấu đáo. Và trong mỗi bản dự thảo của Luật sống hay thậm chí trong mỗi tác phẩm khác của mình, cha không bao giờ lại không đặt tình yêu của Đức Giê-su nơi Nhiệm Tích Thánh Thể làm trung tâm. Chính từ thực tại nền tảng này mà những thứ khác phát sinh, bao lâu cha còn quan tâm đến nó “Tình yêu là lời đáp trả cho tất cả những vấn nạn của thế giới”, cha thường nhắc nhở tu sĩ của mình và diễn tả điều này trong đời sống của chính cha, đặc biệt sau Cuộc Đại Tĩnh Tâm ở Rô-ma.
Để làm cho tình yêu của Đức Giê-su nơi Thánh Thể trở thành những phương tiện thiết yếu trong thực tế, đòi hỏi những tư tưởng, lời nói, quyết định và hành động của chúng ta phải được nhìn dưới lăng kính của tình yêu – điều đó sẽ biểu lộ tình yêu này rõ ràng hơn, nuôi dưỡng một cách mạnh mẽ hơn, cho phép người khác tái khám phá một cách dễ dàng và sống điều đó một cách hăng hái hơn; phải chăng điều đó có loại bỏ được cản trở vốn là “chủ nghĩa cá nhân” hay không? Hiện nay, hình thức “đặt trung tâm” này không diễn ra một cách tự động; nó là kết quả của sự nỗ lực bền bỉ và đau khổ để đặt nền tảng cho cuộc đời chúng ta. Về phần mình, rõ ràng chúng ta sẽ đi theo con đường của toàn thể nhân loại, đó là hướng đến tư lợi. Không nghi ngờ gì khi cha Eymard nhấn mạnh rằng “mỗi tu sĩ sẽ làm cho điều này trở thành tâm điểm…!
Cha thường nhấn mạnh điều đó trong suốt giai đoạn đào tạo các tu sĩ của cha, họ sẽ được dạy dỗ để làm cho tình yêu đối với Nhiệm Tích Thánh Thể trở thành tâm điểm đích thực trong đời sống của họ. Khi đã học được điều này trong giai đoạn đầu của hành trình dâng hiến, cha hy vọng rằng họ sẽ tiếp tục đào sâu và mở rộng thêm khi họ đã tiến bộ. Tuy nhiên, trong thực tế, điều này thường không diễn ra như người ta vẫn hằng mong muốn. Tuy nhiên, kết quả thì mọi người đều có thể nhận ra – chúng ta không đạt được mục đích trở thành những môn đệ đích thực và những tông đồ xứng đáng của tình yêu nơi Đức Giê-su Ki-tô.
Không phủ nhận rằng thậm chí trong thời đại chúng ta, tình yêu của Đức Giê-su vẫn là một điều gì đó cần thiết (Lc 10,42) và đó là điều mà mỗi người mong chờ; bên cạnh đó, đây chính là bầu khí duy nhất mà chúng ta có thể sống như người con đích thực của Cha chúng ta. Trời mới và đất mới mà Chúa Phục Sinh ban cho chúng ta đòi hỏi rằng ít nhất, chúng ta, những tu sĩ Thánh Thể, những khí cụ được tuyển chọn của Thiên Chúa, phải nỗ lực để đặt nền tảng đời mình trên tình yêu của Thiên Chúa. Thế nhưng, những thế lực của sự dữ xung quanh chúng ta chẳng hạn: chủ nghĩa quyền lực, toàn cầu hóa và mọi thứ lôi kéo con người theo chiều hướng ngược lại – xem Cái Tôi là trung tâm! Việc kỷ niệm 200 năm ngày sinh của cha Eymard sẽ là một cơ hội tốt và thuận lợi cho mọi nỗ lực để mỗi người ao ước trở thành một môn đệ và tông đồ của tình yêu Thiên Chúa trong thế giới hôm nay.
 
Ngày 10/1
Trong bản hướng dẫn dành cho các hội viên của Huynh đoàn Thánh Thể, cha Eymard nói: “Hãy trở nên những môn đệ và tông đồ của Chúa Thánh Thể”. [gửi cho Marie de Fegely de Vivy, tháng 7/1863].
“… Lòng đầy miệng mới nói ra” (Mt 12,34). Dĩ nhiên, Chúa Giê-su đã nói những lời ấy trong một bối cảnh khác, nhưng chúng ta có thể nói rằng vì tâm hồn chứa chan tình yêu của Thiên Chúa, nên cha Eymard không thể không nói “trong thời gian và ngoài thời gian”. Cha không chỉ khuyên điều này đối với các tu sĩ của cha, nhưng còn cho các hội viên, những người cùng chia sẻ lý tưởng với cha. Rõ ràng mong ước của cha Eymard là sẽ có nhiều công cụ hăng hái bao nhiêu có thể để đảm trách công việc này. Bên cạnh đó, những giáo dân có thể đến với nhiều người hơn là các linh mục và tu sĩ có thể làm; họ cùng gánh vác chung với những người này ngay tại tư gia, nơi khu xóm, phố chợ, công xưởng, khi đi du lịch và thậm chí khi đi nghỉ.
Tuy nhiên, điểm quan trọng đó là chúng ta nhận ra rằng đây là một và chỉ là một phương thuốc mà con người ngày nay cần đến. Sự nhận ra này chỉ có thể phát xuất từ chính cảm nghiệm cá nhân của con người. Khi hiểu ra rằng chính chúng ta đã thu được lợi ích gì từ tình yêu này trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta, bấy giờ chúng ta mới biết chia sẻ kinh nghiệm cá nhân của mình cho người khác, vì những kinh nghiệm ấy quá gian nan đến nỗi không thể cảm nghiệm được sự an bình, tình bằng hữu và sự hòa hợp đích thực trong gia đình, nơi công xưởng và ở những nơi khác. Tinh thần môn đệ luôn luôn đi trước tinh thần tông đồ.
Chúng ta cũng nhớ rằng, tông đồ là người được sai đi. Giờ đây, Chúa Giê-su không sai những người được Ngài tuyển chọn để trở thành các tông đồ nếu như chính họ không cảm nếm được sự ngọt ngào của tình yêu này. Trong Tin Mừng, chúng ta lưu ý rằng sau khi hỏi các tông đồ của mình xem họ nghĩ Ngài là ai, ông Phê-rô đã trả lời “Thầy là Đức Ki-tô (Con Thiên Chúa), Chúa Giê-su đã nghiêm cấm họ không được nói điều này với bất kỳ ai. Câu trả lời của Chúa Giê-su cho thấy rằng vẫn còn một chiều kích quan trọng mà các ông cần phải lĩnh hội trước khi các ông tiến lên phía trước một cách an toàn, và do đó thập giá và đồi Can-vê là điều hết sức cần thiết. Khi các tông đồ đã thấu hiểu được điều này, các ông mới sẵn sàng và vì thế, trước khi hoàn tất hành trình của mình, Chúa Giê-su đã nói với các ông: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ… dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,18-20).
Trong trường hợp của chúng ta cũng vậy, cha Eymard không bảo chúng ta trở thành những tông đồ của tình yêu Thiên Chúa khi tất cả những gì chúng ta cảm nghiệm đều là thứ tình yêu có điều kiện, một thứ tình yêu mà loài người có thể đem lại cho chúng ta. Thậm chí khi có một ai đó nói với chúng ta: “Tôi yêu và chấp nhận bạn, không có vấn đề gì!” chúng ta nhận ra rằng chúng ta có thể bị thất vọng một vài ngày, đơn giản vì người ấy không thể đáp ứng nổi điều này. Vì vậy, trước tiên chúng ta cần học tập trong trường tình yêu của Thiên Chúa trước khi chia sẻ tình yêu ấy cho người khác. Nhưng khi đã tốt nghiệp tại trường học tình yêu này, lời chứng của chúng ta không thể không mạnh mẽ và thuyết phục.
 
Ngày 11/1
Trước khi trở thành một tông đồ, chúng ta cần biết cách trở thành một môn đệ tốt. Muốn thánh hiến người khác, chúng ta cần thánh hiến chính mình. Đó chính là điều Đức Giê-su Ki-tô đã làm cho các môn đệ của Người; Người đã bắt đầu bằng việc làm cho các ông trở nên thánh thiện. [Hội thảo về ‘Việc thánh hiến những hành vi của con người’].
Chúng ta đã biết ngay từ khởi đầu, trước khi sai các môn đệ ra đi, Đức Giê-su đã dạy các ông tỏ lòng biết ơn với tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa. Nhưng ở phần cuối các sách Tin Mừng, chúng ta thấy rất ít người trong các ông đã học được những bài học hết sức quan trọng này. Cả Phê-rô và Giu-đa đều phản bội Chúa theo những cách thức nghiêm trọng, Phê-rô đã có thể trở về với tình yêu tha thứ của Thiên Chúa, còn Giu-đa thì không – có lẽ vì ông cảm thấy lỗi lầm của mình (phát xuất từ chủ nghĩa cá nhân và sự cứng lòng) lớn hơn cả quyền năng của tình yêu cứu chuộc nơi Thiên Chúa.
Nguyên nhân đằng sau hai hành động khác biệt này đáng được lưu ý. Phê-rô đã mở lòng ra đủ để tin rằng tình yêu của Chúa Cha hoàn toàn khác biệt với tất cả mọi hình thức tình yêu khác mà ông đã cảm nghiệm. Ông không cần biết điều này đã được tỏ lộ ra cho mình… có lẽ cái nhìn của Đức Giê-su trong Cuộc Tử nạn đã đủ để thuyết phục ông nhận ra lòng nhân hậu không biên giới của Thiên Chúa: ông đã ra ngoài và khóc. Phê-rô trở lại vì ông đã ngước nhìn Đức Giê-su và không bao giờ để cho mình quên đi tất cả những gì Đức Giê-su đã dạy các ông về tình yêu của Chúa Cha.
Thật không may, Giu-đa dường như chỉ chú ý vào chính mình, vào tội ác mà ông cảm thấy vượt trên cả sự tha thứ của Chúa Cha. Có lẽ tất cả những gì ông nhớ chỉ là những lời răn đe của các ngôn sứ, những người đến trước Đức Giê-su, đòi hỏi một sự thay đổi tích cực nếu con người muốn cảm nghiệm được sự tha thứ của Thiên Chúa. Gio-an Tẩy giả đã rao giảng rằng: “Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ sắp giáng xuống? Vậy các anh hãy sinh những hoa quả xứng với lòng hối cải. Đừng vội tự nhủ rằng: ‘Chúng ta có tổ phụ là ông Áp-ra-ham’. Quả thế, tôi bảo các anh: Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá này trở nên con cháu ông Áp-ra-ham. Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa.” (Lc 3,7-10). Ở đây, chúng ta nhận ra sự thay đổi đạt được hiệu quả với điều kiện trước tiên là phải cảm nghiệm được lòng thương xót của Thiên Chúa.
Một người môn đệ chân chính phải nhận ra rằng dù mình có đi lạc, nhưng Người Mục tử nhân lành luôn luôn ở gần kề; Người sẽ không nghỉ ngơi cho đến khi con chiên lạc ấy lại được đưa về đoàn chiên một cách an toàn. Điều đó cho thấy rằng người môn đệ phải biết chia sẻ với người khác khi người ấy trở thành một tông đồ. Đức Giê-su đã đưa ra cho các môn đệ rất nhiều ví dụ về sự tha thứ của Thiên Chúa trong suốt giai đoạn dạy dỗ các ông, nổi bật nhất là trường hợp tha thứ cho người phụ nữ phạm tội ngoại tình. Tuy nhiên, thường thì không phải chính mẫu gương của người khác mới thuyết phục được người ta, nhưng là chính kinh nghiệm của bản thân chúng ta được chia sẻ một cách khiêm tốn. Chúng ta đã có kinh nghiệm gì về lòng thương xót của Thiên Chúa để nói với người khác? Chúng ta có thể bắt chước thánh Au-gus-ti-nô làm một “cuộc trở về” để tôn vinh Thiên Chúa vì sự tha thứ bao dung của Người?
 
 
Ngày 12/1
Khi đồng hành với hai môn đệ trên đường Emmaus, Chúa chúng ta đã nói với họ rằng Người đã chết, đã chịu đau khổ. Những tâm hồn tốt lành này đã chẳng hiểu gì cả. Nhưng khi họ chia sẻ tấm bánh, họ thốt lên rằng: Tất cả đều là sự thật- chúng ta đã cảm nghiệm được điều đó giống như một ngọn lửa đang bừng cháy lên trong chúng ta vậy.” [Hội thảo, tháng 8/1859]
Thực tại của tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta vượt xa sự hiểu biết của chúng ta. Cách duy nhất Ngài có thể chuyển tải điều này cho chúng ta một cách hiệu quả chính là qua các biểu tượng (Mục tử, gà mẹ với gà con, chim bằng…)- giây phút quan trọng trong sự thay đổi này chính là “mở mắt chúng ta ra” để nhận ra thực tại ấy là gì. Vì tình yêu Thiên Chúa, cũng như tất cả những ưu phẩm khác của Ngài thật không thể tin nổi, đặc biệt là đối với những ai đã cảm nhận được tình yêu có điều kiện duy nhất nơi người khác. Bên cạnh đó, quan niệm tự nhiên của chúng ta về sự công bằng mách bảo chúng ta rằng một tội nhân cần phải bị trừng phạt vì tội lỗi của mình bằng hình thức này hay hình thức khác. Vì thế, khi Thiên Chúa lôi kéo chúng ta đến gần Ngài, thì trong thâm tâm chúng ta cảm thấy có khoảng cách, bất xứng; chúng ta tưởng tượng chúng ta đang lừa dối Thiên Chúa, như thể Ngài không biết sự tàn ác của tội lỗi chúng ta!
Khi nhìn vào cuộc đời mình, chúng ta khám phá ra một “ngưỡng cửa” cần phải vượt qua trước khi chúng ta có thể tin tưởng một cách chắc chắn. Cho đến khi đạt đến ngưỡng cửa này, chúng ta sẽ luôn luôn đòi hỏi những dấu chỉ và bằng chứng! Thế nhưng, trong sự nhân lành, Chúa ban cho chúng ta dấu chỉ, sau khi thực hiện dấu lạ, để vượt qua ngưỡng cửa đó. Tuy nhiên, nếu Chúa đã thực hiện được, thì cũng có một điều gì đó chúng ta nên làm để tiến gần đến ranh giới của khổ nạn! Đọc Kinh Thánh và suy niệm về kinh nghiệm của người khác sẽ giúp chúng ta hiểu và chấp nhận rằng đối với Thiên Chúa, không có giới hạn nơi tình yêu và sự hiểu biết của Ngài. Tình yêu của Ngài dành cho chúng ta không căn cứ vào việc chúng ta là ai, nhưng vào việc Ngài là ai, không phải vào những gì chúng ta làm cho bằng những gì Ngài làm cho chúng ta.
Chúng ta cũng tự nhủ với lòng mình rằng đối với những người tin, chẳng hạn việc yêu thương người khác, là một vấn đề liên quan đến việc nhìn thấy, trong khi đối với người khác thì chính việc lắng nghe mới là điều cần thiết. Những người khác vẫn còn dựa vào ý nghĩa của việc sờ hay cảm giác– nhưng cho dù sở thích của chúng ta là gì đi chăng nữa, không gì có thể ngăn cản Thiên Chúa đến với chúng ta. Bên cạnh đó, Ngài biết cách làm nào là sở thích của chúng ta trong việc tin hay thậm chí là yêu thương, trước khi chúng ta nói với Ngài! Tuy nhiên, khi chúng ta hành động như những con kênh đến với người khác, sự nhận thức về những cách làm khác nhau này có thể rất quan trọng để thành công. Do đó, chúng ta sẽ cần phải biết rõ thính giả của mình trước khi nỗ lực để chia sẻ với họ về sự sung mãn của tình yêu Thiên Chúa nơi Nhiệm tích Thánh Thể. Lôi kéo họ vào con đường sai lầm không chỉ làm cho những nỗ lực của chúng ta trở nên kém hiệu quả, nhưng còn lấy đi khỏi họ một và chỉ một phương thuốc duy nhất để chữa lành tất cả những căn bệnh của họ.
Bên cạnh đó, chúng ta cần nhận ra rằng không phải tất cả mọi người đều sẽ đáp trả lại cách cảm nghiệm cụ thể của chúng ta về Thiên Chúa, vì thế chúng ta cần mở lòng ra để thử những cách làm khác, luôn luôn dựa vào sức mạnh và sự hướng dẫn của Thiên Chúa. Cũng thế, với những ai chúng ta đã tiếp xúc, chúng ta không cảm thấy ghen tương khi một người nào đó thành công hơn chúng ta. Điều cốt yếu là lửa tình yêu phải bừng cháy mãnh liệt và mãi mãi nơi chúng ta, khiến chúng ta muốn chia sẻ sự tốt lành của Thiên Chúa với tất cả những ai chúng ta gặp gỡ, không ngại khó khăn hay phải trả giá!
 
 
Ngày 13/1
Tôi đã nghe ngài giảng về Chúa Ba Ngôi tại nhà nguyện Notre Dame de Grace của chúng ta…[…] Ngài có một cái nhìn rực lửa, […] Tôi đã nghe một số người nổi tiếng nói về Thánh Thể, chẳng hạn như Đức Giám mục Segur, một trong những tông đồ của Thánh Thể; thế nhưng phong cách và sức mạnh của cha Eymard thì hoàn toàn khác. Ngài nói đơn giản, không có bất kỳ một sự giả vờ nào; ngài hòa nhập mình với những cử tọa của mình. Lời của ngài tuôn chảy tựa như tia sáng và tia lửa vậy.” [A. Guitton, ‘thánh Phê-rô Giu-li-a-nô Eymard, tông đồ Thánh Thể’, trang 329-330]
Kinh nghiệm cho thấy việc thuyết phục người khác không phụ thuộc quá nhiều vào âm lượng hay độ dài của cuộc tranh luận cho bằng là vào chiều sâu của sự thuyết phục mà người ta đề cập tới. Thực tế, người ta nói rằng việc truyền đạt thông tin của con người là một điều gì đó giống như những cái cây vậy – tán lá của cây càng lớn, trái của nó càng khó kiếm! Thường thì sự thinh lặng có ý nghĩa hơn sự ồn ào! Sau cuộc tĩnh tâm ở Rô-ma, cha Eymard là một con người được thay đổi và kể từ đó, tất cả những gì cha cần làm ‘để sinh hoa trái’ đó là ‘trở nên’ chính mình. Sau khi đã dâng chính mình hoàn toàn cho Chúa, cha luôn luôn giải đáp câu hỏi cơ bản của mình: ‘Lạy Chúa! Chúa muốn con làm gì?’
Khi viết cho các tín hữu ở Cô-rin-tô, thánh Phao-lô nói: “Vì thế, dù ăn hay uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm mọi sự vì vinh quang Thiên Chúa” (1 Cr 10,31-32). Dĩ nhiên, ý tưởng này là có thể ý thức làm việc này mà không giả vờ hay lôi kéo sự chú ý về phía mình dưới bất cứ hình thức nào. Sự kết hiệp của chúng ta với Thiên Chúa cần phải trở thành bản tính thứ hai, một ‘sự sinh lại’ đích thực để chúng ta nói về Ngài cũng như làm việc cho Ngài như thể gắn kết với bất kỳ một hoạt động bình thường nào khác của con người. Điều này chỉ có thể xảy ra khi chúng ta hoàn toàn ngụp lặn trong tình yêu của Ngài và hành động với một sự cống hiến trọn vẹn.
Thật ngạc nhiên, làm thế nào mà những con người đơn sơ lại có thể nói một cách dễ dàng khi người khác nói từ chính con tim chứ không phải chỉ từ cái đầu. Thường thì chúng ta cảm thấy rằng những bài diễn thuyết và những bài chia sẻ của chúng ta phải được chống đỡ bởi một loạt những trích dẫn từ những học giả và tác giả nổi tiếng. Thế nhưng, điều hiệu quả nhất trong việc thông tin của chúng ta luôn luôn là một sự bộc lộ chính mình một cách chân thật. Thật không may, có còn hơn không, thậm chí việc thông tin về phụng vụ của chúng ta đã trở thành những trình bày mang tính nghiên cứu và uyên bác về giáo lý. Thay vào đó, nếu chúng ta chỉ nói từ con tim và chia sẻ hành trình đức tin dao động của chính chúng ta, điều đó có thể sẽ tác động đến người khác một cách hiệu quả hơn và giúp họ tương giao với Đức Ki-tô. Chúng ta biết, cha Eymard nói mà không có bất kỳ sự giả vờ nào!
Điều đó không có ý nói rằng sẽ không có nhiều người (có thể là nhiều người) chỉ kiếm tìm tính hoa mỹ và sự trang trọng trong những thông tin của chúng ta. Nhưng nếu người nào chân thành tìm kiếm Chúa, thì dù một bài diễn thuyết sơ sài của một người bình thường cũng có thể phong phú về ý nghĩa và đem đến một cuộc gặp gỡ chân thành với Chúa Giê-su. Một đặc tính khác của người tông đồ đích thực đó là người ấy đáp ứng những nhu cầu của thính giả của mình; người ấy nói để họ có thể hiểu, chứ không phải là phô diễn trình độ học vấn của mình. Chúng ta sẽ dựa vào cái gì khi chia sẻ niềm tin của chúng ta: vào tài hùng biện, nghệ thuật diễn thuyết hay vào chính kinh nghiệm đức tin của chúng ta vào Đức Giê-su?
 
Ngày 14/1
Anh chị em được mời gọi để thắp lửa cho toàn cõi địa cầu”. [Giảng tĩnh tâm ở Paris cho gia đình Thánh Thể, tháng 8/1867 ].
Khi một ai đó khám phá ra một phương thuốc ngăn ngừa căn bệnh hiểm nghèo, chẳng hạn như: bệnh ung thư, thì chẳng lấy gì làm ngạc nhiên khi người ấy quan tâm đến việc chia sẻ khám phá của mình với mọi người. Và trong việc chia sẻ của mình, người ấy không nhắm tới mục đích đánh lừa người khác như đôi lúc vẫn xảy ra trong các chương trình quảng cáo kỹ thuật cao, dựa trên cuộc nghiên cứu tâm lý mới nhất. Điều người ấy cần đơn giản chỉ là sự tin tưởng chắc chắn vào chân lý mà người ấy đã cảm nghiệm trong chính cuộc đời mình. Đặc biệt khi nhận thấy con người đang đau khổ vì thiếu một phương thuốc chữa lành hữu hiệu, người ấy sẽ hăng say hơn để chia sẻ những khám phá của mình, cho dù phản ứng lúc đầu của người ta không mấy tốt đẹp.
Khi Christopher Columbus, nhờ chịu khó làm việc, lên kế hoạch cho một chuyến hành trình ngắn hơn từ Châu Âu đến Ấn Độ, ông đã không thể nghỉ ngơi cho tới khi ông chia sẻ điều này cho toàn thể thế giới. Và vì thế, dù biết đó là một sự mạo hiểm cực kỳ đối với chính ông cũng như thủy thủ đoàn của mình, nhưng ông vẫn khởi hành và tiếp tục dự án của mình mặc cho những lời chống đối kịch liệt, cho đến khi ông có thể chứng minh cho niềm tin của mình. Thành công của ông là một sự gợi hứng cho người khác tiếp tục một hành trình mới. Tuy nhiên, khi nói đến đời sống nội tâm liên quan đến những kinh nghiệm đức tin, nỗ lực để đạt được mục tiêu có thể sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Thế nhưng, nếu chúng ta ghi nhớ rằng chúng ta hành động không phải vì chính bản thân chúng ta, nhưng như những khí cụ trong lòng bàn tay Chúa, bấy giờ mọi sự sẽ trở nên dễ dàng để đương đầu với mọi khó khăn.
Tuy nhiên, điều quan trọng đó là chúng ta phải ý thức rằng chúng ta được trao phó những kho tàng Thánh Thể không chỉ vì niềm vui cá nhân của chúng ta, nhưng chúng ta phải trở thành những ‘tông đồ’ có trách nhiệm chuyển trao những kho tàng ấy cho người khác. Có lẽ, đây là chỗ mà hầu hết các Ki-tô hữu đều vấp ngã. Dường như, họ cảm thấy rằng việc trở thành một Ki-tô hữu là một ơn riêng mà Thiên Chúa ban cho họ. Tất cả những nỗ lực của họ sau khi chịu phép Rửa Tội đều quy hướng vào việc gia tăng những ân huệ ấy, thủ đắc những ơn ích cho riêng mình. Có lẽ, đó là lý do lớn nhất giải thích vì sao hầu hết các Ki-tô hữu đều thiếu hăng hái trong việc chia sẻ kinh nghiệm đức tin của mình cho người khác. Khi chúng ta biết chấp nhận lý do tiên quyết để trở thành một Ki-tô hữu là phải ra đi loan báo Tin Mừng, thì bấy giờ, ngọn lửa, niềm say mê làm cho Đức Giê-su được biết đến và được yêu mến sẽ trở thành một ngọn lửa bùng cháy.
Chúng ta cần ra công làm việc để loan báo tình yêu của Thiên Chúa, trước tiên tại nơi mà chúng ta đang sống. Nếu Chúa cần những việc phục vụ của chúng ta ở bất cứ nơi đâu, chính Ngài sẽ đảm bảo những nơi mà chúng ta đến và những người mà Ngài sẽ chọn lựa cho chúng ta. Vì vậy, chúng ta không cần phải lo lắng về việc chúng ta sẽ loan báo Tin Mừng cho ai. Tất cả những gì chúng ta cần làm đó là hãy bắt đầu với những người đang sống xung quanh chúng ta, những người làm nên sợi ngang sợi dọc trong cuộc đời chúng ta. Chúng ta cần cẩn trọng để đừng cho bất kỳ ai là đúng vì không phải chúng ta chọn Chúa, nhưng chính Chúa chọn chúng ta. Chúng ta cần được đốt nóng bởi ngọn lửa tình yêu của Chúa trong chúng ta. Lời cầu nguyện của chúng ta sẽ là: “Lạy Chúa! xin chỉ cho con biết những ai mà Chúa muốn con loan báo Tin Mừng trong ngày hôm nay! Xin biến con thành một khí cụ của tình yêu Chúa cho tất cả những ai mà Chúa gửi đến cho con trong ngày hôm nay!”
 
Ngày 15/1
Một linh mục để cho một ngày trôi qua mà không đọc Kinh Thánh thì coi như đã đánh mất đi ngày sống của mình.” [Tĩnh tâm ở Notre-Dame du Laus, 6/1837]
Cha Eymard trở đi trở lại chủ đề này dưới nhiều cách thức khác nhau. Chúng ta đã suy niệm về việc cha khẳng định rằng ngọn lửa cần phải được tiếp thêm nhiên liệu và bốc cháy lên thành ngọn đuốc, bằng không nó sẽ mau chóng tàn lụi. Ở đây, cha nhấn mạnh rằng người môn đệ nhiệt thành cần phải luôn luôn được lấp đầy bằng nguồn mạch và cội nguồn – chính là Lời Chúa trong Kinh Thánh. Trong thời đại hôm nay, chúng ta không có lý do gì để từ chối lời đề nghị này, chúng ta có rất nhiều ấn bản và phiên bản Kinh Thánh bằng nhiều ngôn ngữ. Bên cạnh đó, những sách chú giải cập nhật thường xuyên cũng có sẵn trong tầm tay chúng ta. Tất cả những gì chúng ta thực sự cần đó là xác tín rằng: giống như cơ thể sẽ suy yếu khi không được nuôi dưỡng một cách hợp lý, thì cũng thế tinh thần của chúng ta sẽ mất sức sống khi từ chối của ăn Lời Chúa trong Kinh Thánh.
Thế nhưng, đó không chỉ là vấn đề trung thành đọc bản văn, nhưng là đọc mỗi ngày. Lời chúng ta đọc cần phải được “bẻ ra”, được thưởng thức và được đồng hóa, lời ấy cần trở nên thành phần trong cuộc đời chúng ta. Chúng ta cần nhận ra lời ấy trong việc liên hệ với những đoạn trong Kinh Thánh – những tham chiếu này sẽ giải thích bản văn hay thêm nhiều sắc thái quan trọng cho việc hiểu biết đầy đủ hơn và phong phú hơn. Người ta nói rằng chính Sách Thánh là sách chú giải hay nhất về bất kỳ đoạn văn nào trong Kinh Thánh! Do đó, việc đọc Kinh Thánh của chúng ta cần phải là việc đọc trong tâm thế thanh thản và cầu nguyện, qua đó chúng ta dành thời gian và tự do nội tâm vào những lời, những hình ảnh và những bản văn để liên kết và làm phong phú bản văn gốc. Chính Thần Khí sẽ dẫn dắt chúng ta trong việc đọc Sách Thánh được phong phú hóa này.
Nếu chúng ta nhớ lại kinh nghiệm của hai môn đệ trên đường Emmaus, chúng ta lưu ý rằng chính Chúa Phục Sinh giải thích Sách Thánh tường tận cho họ; Ngài đi xuyên suốt Sách Thánh để nối kết các bản văn với nhau cho đến khi các ông rạo rực bằng sự thúc bách và sức mạnh. Khi nắm bắt được chân lý: nhất thiết Đức Ki-tô phải chịu đau khổ rồi sau đó mới bước vào vinh quang của Người, các ông sẽ chẳng bao giờ lại có thể quên đi ý nghĩa của chân lý ấy và áp dụng vào cuộc đời mình. Chính cách đọc tường tận như vậy sẽ thắp lên trong chúng ta ngọn lửa tình yêu của Thiên Chúa và biến chúng ta thành những tông đồ năng động làm việc hết mình để loan báo Vương quốc tình yêu của Thiên Chúa.
Một điểm khác cũng đáng lưu lại trong tâm trí đó là chúng ta càng hành động nhờ lời sau khi tiếp nhận lời ấy, cuộc đời chúng ta ngày càng trổ sinh hoa trái (Gc 1,22-27). Chúng ta có được câu trả lời của Đức Giê-su dành cho người đàn bà đã chúc phúc cho Mẹ Ngài “Đúng hơn là phúc cho những ai nghe và giữ lời Thiên Chúa” (Lc 11,28). Thường thì, thái độ không sẵn sàng để làm những gì Lời đòi hỏi chúng ta chính là cái đóng khung sự hiểu biết của chúng ta về Lời ấy. Do đó, trước khi chúng ta bắt đầu, một lời cầu nguyện chân thành với Chúa Thánh Thần lúc nào cũng sẽ giúp hướng đến việc hiểu biết rõ hơn và can đảm thi hành sứ điệp mang lại sự sống của Thiên Chúa dành cho chúng ta.
 
Ngày 16/1
Vậy đây là điều mà tôi phải trở nên cho anh em và những người láng giềng của tôi, đó là lời của Đức Ki-tô” (x. Cl 3,16) [Ghi chú cá nhân, tháng 5/1845]
Lời của Thiên Chúa mang theo sứ điệp sự sống vĩnh cửu (Ga 6,68): Lời ấy soi sáng chúng ta về mục đích của cuộc đời chúng ta, nhắc nhở chúng ta về cội nguồn của mình và đảm bảo cho chúng ta vận mệnh sau cùng trong vương quốc tình yêu của Thiên Chúa. Hơn nữa, chúng ta không bao giờ có thể quên được rằng Lời của Thiên Chúa đã trở thành xác phàm nơi Đức Giê-su, Đấng cư ngụ giữa chúng ta (Ga 1,14). Những ai đón nhận Người thì trở nên con cái đích thực của Thiên Chúa! Hơn nữa, Lời của Thiên Chúa không chỉ nuôi dưỡng chúng ta, Lời ấy còn xoa dịu nỗi đau trong những lúc buồn phiền của con người cũng như hướng dẫn họ trong lúc bối rối. Và khi cũng những con người này trở nên tự mãn và quá tự tin, Lời sẽ không an ủi và không ở lại nơi họ để đem họ trở về với Người. Hơn nữa, Lời sẽ linh hứng và thúc đẩy mọi người dâng hiến phần tốt nhất của mình ngay trong những tình cảnh khó khăn (Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước… Tv 109,105).
Quan điểm của cha Eymard dường như là: cũng như Lời đã trở nên xác phàm và mặc lấy hình dạng con người để tiếp tục thực hiện tất cả những gì mà lời Kinh Thánh muốn ám chỉ tới cho dân Thiên Chúa, thì cha (Eymard) cũng sẽ trở nên lời được hóa thành nhục thể cho con người của thời đại cha. Cha coi mình như được mời gọi để ‘biểu hiện’ tình yêu, lòng trắc ẩn, sự quan tâm và sự tha thứ của Thiên Chúa cho dân Ngài, để chuyển những nhân đức thành những hành động sống động. Sự hiểu biết này của cha là có nền tảng, vì con người được thúc đẩy để hành động nhờ vào những mẫu gương được linh hứng hơn là những ký tự lạnh lùng của một cuốn sách! Vì, khi một ai đó đạt được một sự hiểu biết mới mẻ về thực tại thông qua những cuộc chiến đấu và nỗ lực của chính mình cũng như chia sẻ điều ấy cho người khác, thì lời chứng của người ấy sẽ trở nên mạnh mẽ hơn. Cha Eymard ao ước đem sự trợ giúp này đến cho những người cùng thời với cha.
Lý do là, vào thời cha Eymard, chắc chắn Sách Thánh không được người ta dễ dàng đón nhận như ngày nay, cũng như là không có nhiều sách chú giải và những trợ giúp mà chúng ta có sẵn như ngày nay. Vì thế, một sứ giả nhân loại sẽ trở nên tất cả những gì hữu ích hơn và cần thiết hơn trong thời đại của mình. Cha không chỉ muốn trở nên một điều gì đó cho con người trong thời đại cha, nhưng cha còn ao ước mỗi một tu sĩ thuộc hội dòng của cha cũng sẽ hành động tương tự như vậy. Nói tóm lại, cha sẽ làm cho mỗi người trở thành một ‘Tin Mừng sống’ để tất cả mọi người đều có thể đọc – không nghi ngờ gì nữa, đó là một ý tưởng cao siêu và cũng là một thách đố lớn lao!
Điều hiệu quả nhất đối với con người đó là chính vị tông đồ thực hành điều mà ngài giảng dạy cho người khác. Việc thực hành của ngài không chỉ là một sứ điệp về niềm hy vọng cũng như sự an ủi mang tính cách cá nhân, nhưng là một lời đem lại sự sống. Sứ điệp của Thiên Chúa chính là vấn đề sự sống và sự chết. Đây là điều tạo nên sự khác biệt giữa một Mục Tử Nhân Lành với một kẻ làm thuê, một khí cụ hăng hái với một người chỉ biết làm theo sở thích riêng. Thường thì người ta sẵn sàng trở nên Lời cho người khác bao lâu họ biết đón nhận và tỏ lòng biết ơn. Nhưng sẽ như thế nào nếu những người thụ nhận không phải là những người biết ơn? Chẳng phải một kinh nghiệm như vậy sẽ dập tắt lòng hăng hái của người tông đồ hay sẽ khiến anh ta phải quyết định tìm những phương tiện tốt hơn để tiếp cận họ bằng sứ điệp sự sống? Một người môn đệ và người tôn thờ đích thực sẽ loan truyền sứ điệp của Thiên Chúa vì niềm vui khôn tả là có thể đóng góp phần nhỏ bé của mình cho Nước Trời mau đến chứ không phải vì điều gì khác!
 
Ngày 17/1
Đức Giê-su Ki-tô là ánh sáng, mặt trời chân lý, và Ngài là ngọn lửa thiêng… Ngọn lửa tình mến của Ngài soi chiếu trên chúng ta, và khi soi chiếu trên chúng ta, Ngài linh hứng cho chúng ta… Vậy những thái độ của Ngài là gì? Hãy mở Tin Mừng ra, nguyện xin Đức Giê-su Ki-tô nơi Bí Tích Thánh Thể linh hứng cho bạn về mọi sự; ở đó người ta đặt mình dưới chân Ngài và người ta có được câu trả lời đúng; hãy hỏi Chúa. Đây là lý do vì sao mọi tâm hồn ao ước sống nhờ Đức Giê-su Ki-tô đều là những con người suy niệm, chiêm ngắm, một người tôn thờ.” [Tĩnh tâm tháng, 12/1860]
 Chúng ta thường nghiệm thấy trong cuộc đời là: một người tông đồ chỉ có thể hăng hái và đầy nhiệt huyết bao lâu những nỗ lực của họ đạt được thành công. Thế nhưng khi sự từ chối, khinh miệt, thất bại cũng như sự bắt bớ luôn luôn theo sát bước đi của họ, thì họ có thể bị cám dỗ để buông xuôi. Thực ra, Đức Giê-su không hứa với các môn đệ của Người rằng họ sẽ luôn luôn thành công- đúng hơn, Người phán bảo các ông phải vác thập giá mình mỗi ngày mà theo Người. “Nếu họ bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em…” (Mt 10,23-24). Tất cả những gì người tông đồ chân chính cần trong những lúc bị từ khước cũng như bị bắt bớ đó là trở về với Thầy mình và kết hợp những đau khổ của mình với những đau khổ của Đức Giê-su. Người ấy nên đặt ngọn lửa tình yêu nhỏ bé của mình bên cạnh ngọn lửa vĩ đại của tình yêu Đức Ki-tô nơi Bí tích Thánh Thể. Điều đó sẽ không kéo dài trước khi chính người ấy tìm lại được nhiệt huyết. Đây là nguồn mạch duy nhất mà người ấy sẽ tìm thấy để thường xuyên được đổi mới cũng như lại được sai đi thi hành sứ vụ.
Trước nhan thánh của Chúa và Thầy mình, đặc biệt trước dấu chỉ sống động về hy tế của chính Người, người tông đồ sẽ tìm thấy sức mạnh và mục đích mới. Vả lại, không phải qua việc tranh luận vĩ đại, nhưng qua việc chiêm ngắm thinh lặng đầy yêu thương mà người ấy sẽ được đổi mới. Công trình của Thiên Chúa luôn luôn được thực hiện trong sự thinh lặng và tĩnh tại. Khí cụ cần phải học để biết cách dâng cho Chúa những tan vỡ cũng như những giới hạn của chính mình và để cho Chúa và Thầy bổ sung những sức lực suy yếu của mình.
Thật là hữu ích khi nhớ lại rằng dự án mà chúng ta đảm trách không phải là dự án của con người, nhưng là kế hoạch siêu việt của chính Thiên Chúa đối với dân Ngài, và đường lối của Thiên Chúa không phải là đường lối của chúng ta: “Đức Chúa phán: tư tưởng của Ta không phải tư tưởng của các ngươi, và đường lối của Ta không phải đường lối của các ngươi. Trời cao hơn đất bao nhiêu, thì tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng của các ngươi bấy nhiêu” (Is 55,8-10). Chúng ta có thể hiểu đôi chút về đường lối của Thiên Chúa chỉ khi chúng ta hoàn toàn thinh lặng ngồi trước mặt Ngài và tiêu hóa những kế hoạch và mục đích của Ngài. Cha Eymard đã truyền lại cho các học trò của mình những gì cha đã học được từ chính kinh nghiệm của bản thân. Nếu chúng ta không thường xuyên trở về với suối nguồn sự sống, chính Đức Giê-su hiện diện với chúng ta nơi Bí Tích tình yêu, thì rõ ràng chúng ta sẽ đánh mất và để vuột mất mọi thứ. Dĩ nhiên, thực tế, Ngài, là Chúa và là Thầy, sẽ đợi chờ chúng ta bằng sự kiên nhẫn và tình yêu vô biên nơi Bí Tích Cực Thánh này.
Vì thế, chính nơi đây chúng ta sẽ được đổ tràn và được tiếp thêm sinh lực bao lâu chúng ta cần đến. Không có giới hạn cho những lần chúng ta viếng thăm Ngài, vị lương y thần thánh, bao lâu chúng ta đến với Ngài bằng tình yêu và trung thành đem tình yêu của Ngài đến với những người con yêu dấu của Ngài.
 
Ngày 18/1
“Mất đức tin phát xuất từ việc mất tình mến; bóng tối bao phủ từ việc mất ánh sáng; cơn lạnh giá của sự chết phát xuất từ việc thiếu vắng ngọn lửa.” [Gửi cho bà Thô-lanh Bốt, tháng 10/1851]
Một trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc hình thành một mối tương quan tình yêu chính là sự tin tưởng dần dần thiết lập giữa đôi bên. Sự tin tưởng này lớn mạnh đến nỗi mỗi bên, nói một cách văn chương, sẽ ‘nhìn thấy’ hay cảm nhận được điểm tốt của nhau. Khi người kia càng ngày càng trở nên đáng tin cậy, thì sợi dây đức ái sẽ ngày càng bền vững. Vì thế, chúng ta có thể nói rằng đức tin (sự tín thác) và đức mến phụ thuộc lẫn nhau. Khi sự tin tưởng giữa những người bạn bắt đầu sa sút, kết quả là tình yêu cũng sẽ ngày càng trở nên mờ nhạt dần và thậm chí cuối cùng có thể bị tan biến mất.
Các nhà tâm lý nhắc nhở chúng ta rằng nếu như không có “những kho tàng” cất giữ trong tài khoản ngân hàng cảm xúc của người khác, sự tin cậy này sẽ giảm bớt và không xuất hiện. Những kho tàng này có được nhờ vào những hành động đơn giản, chẳng hạn như sự trung tín với lời đã hứa, những cử chỉ tốt, những biểu hiện thân thiện của lòng biết ơn. Điều này quá hiển nhiên đến nỗi chúng ta hay xem thường. Một tương quan giữa hai người là một thực tại sống động, và luôn cần được phát triển. Trong những mối ràng buộc như thế, tương quan sẽ là: hoặc tiến hoặc sẽ lùi. Nó không thể giậm chân tại chỗ. Vì thế, nếu không tìm cách thúc đẩy mối tương quan ấy tiến về phía trước, người ta sẽ làm cho nó thụt lùi lại phía sau.
Về phần mình, Thiên Chúa luôn luôn tìm cách đào sâu sợi dây đức ái cũng như sự tin tưởng giữa Ngài với những người con yêu dấu của Ngài. Vì thế, rắc rối sẽ không bao giờ là ở phía Ngài. Điều đó luôn luôn là ở phía chúng ta, vì khi chúng ta rời bỏ Ngài cũng như tình yêu của Ngài đã ban, hay chúng ta để cho những thụ tạo khác xen vào giữa, hay khi chúng ta làm cho nó quan trọng hơn. Thế nhưng, có lẽ ngáng trở lớn nhất và nguy hiểm nhất cho sự tin tưởng chính là sự thống trị của Cái Tôi. Sẽ có bất kỳ sự nhượng bộ một cách có ý thức và tự do đối với Cái Tôi, đặc biệt trong chiều hướng đối nghịch với tình yêu- chúng ta có thể đoan chắc rằng ngọn lửa ấy sẽ tàn lụi trong cuộc sống dấn thân của chúng ta, dù cho nó chỉ là dần dần đi nữa. Những thất bại hằng ngày của chúng ta về sự yếu đuối và khuyết điểm tự nhiên nhìn chung không diễn ra theo cách này, đặc biệt nếu mức độ tin tưởng này là cao và những nỗ lực được tạo ra để duy trì mức độ tin tưởng này được triển nở.
Vì thế, mối bận tâm của chúng ta sẽ là không bao giờ để cho bất kỳ một ngáng trở nào xảy ra giữa Chúa Giê-su và chính chúng ta. Hoặc là chết đi cho Cái Tôi bao nhiêu có thể, để ‘tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà chính Đức Ki-tô sống trong tôi’ (Gl 2,20). Càng từ bỏ Cái Tôi, chúng ta sẽ càng được đầy tràn Thiên Chúa và cảm nghiệm được sức mạnh của Ngài đang chiếu tỏa trên sự yếu đuối của chúng ta, sự khôn ngoan của Ngài soi chiếu vào sự ngu muội của chúng ta, và lòng bao dung của Ngài phủ lấp sự hà tiện trong việc hiến dâng chính mình của chúng ta! Còn gì hơn, Chúa mong muốn làm việc qua chúng ta và đó là lý do vì sao Ngài tuyển chọn chúng ta- tất cả những gì Ngài đòi hỏi là hãy để cho Ngài tự do hành động trong cuộc đời của chúng ta! ‘Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ dùng bữa với Ta. Ai thắng, Ta sẽ cho ngồi bên Ta trên ngai của Ta, cũng như Ta đã thắng và ngồi bên Cha Ta trên ngai của Người.’(Kh 3,20-21).
 
Ngày 19/1
“Chúng con muốn thắp lửa bốn cõi nước Pháp, bắt đầu từ những hang cùng ngõ hẻm ở Paris, là những nơi cần lửa ấy nhất.” [G. Troussier, thánh Phê-rô Giulianô Eymard, quyển 1, tr. 552-553]
Suốt đời linh mục, cha Eymard được may mắn tiếp xúc với những thử thách của mọi người. Quả thực, cha có thể nói với họ như Chúa Giêsu đã nói khi Ngài nhìn thấy đám đông dân chúng đến với Ngài: ‘Thầy chạnh lòng thương dân này vì họ như bầy chiên không người chăn dắt’ (Mc 6,34). Lúc đó, chính Chúa Giêsu đã dạy dỗ họ nhiều điều- bài giảng của Ngài kéo dài cả ngày hôm đó, quá dài đến nỗi các tông đồ dường như hoàn toàn thất vọng vì lý do chính của việc đến nơi thanh vắng của các ông đã bị quên lãng. Hơn nữa, không thỏa mãn với việc dạy dỗ dân chúng, Chúa Giêsu còn đem đến cho họ một dấu chỉ khả giác về tình yêu và sự quan tâm của Thiên Chúa qua việc nuôi dưỡng họ bằng bánh và cá. Những tiến bộ sau này cho thấy lúc ấy Chúa Giêsu đã thành công trong việc khơi lên ngọn lửa tình yêu nơi tâm hồn của đám dân chúng ấy. Họ đã tìm kiếm Ngài dù cho đó là những lý do sai lầm; nhưng ít ra họ đã cảm nếm được phần nào về lòng nhân từ của Thiên Chúa.
Khi cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa nơi Bí tích Thánh Thể, cha Eymard cũng bị thiêu đốt bởi ngọn lửa ấy để ra đi và chia sẻ với mọi người về sự phong phú của tình yêu Thiên Chúa. Tuy nhiên, thay vì chờ đợi người ta đến với mình, cha đã ao ước đến với họ, đến tận cùng trái đất như Mười Hai Tông đồ đã thi hành sứ vụ. Thế nhưng, thiết thực nhất là khởi đi từ Paris và phải đoan chắc rằng không chỉ ở trung tâm nước Pháp vốn là cái trục để từ đó mọi sự thay đổi cũng như cuộc cách mạng có thể lan tỏa ra nhờ lực ly tâm, nhưng còn là cái nhìn về cuộc cách mạng tinh thần mà cha đã ao ước đem đến bằng tình yêu.
Suốt cuộc đời, cha đã không bỏ sót hòn đá nào để đem tình yêu của Chúa Giêsu Thánh Thể đến với những người dân Pháp. Ngược lại với nền tảng của sự rối loạn về chính trị và tinh thần mà đất nước đang chìm ngập trong suốt giai đoạn đó, điều này trở thành một nhiệm vụ hết sức gian nan. Khi nhìn lại từ viễn cảnh của chúng ta ngày nay, chúng ta có thể nói rằng cha Eymard đã không thành công trong việc loan truyền ngọn lửa Thánh Thể khắp cõi Paris, trên khắp nước Pháp! Thực ra, người ta có thể hỏi xem có bao nhiêu tu sĩ gia nhập vào Hội dòng do cha sáng lập thực sự quy hướng về tình yêu Thiên Chúa như là trung tâm của thực tại Ki-tô giáo! Thế nhưng thật sự là: tình yêu nồng nhiệt của cha dành cho Chúa cũng như ước muốn làm hết sức mình bằng cả tấm lòng đã thôi thúc cha thực hiện điều tốt nhất. Mọi sự đã được đặt vào bàn tay của Ông Chủ mùa gặt!
Ngày nay, chúng ta cũng có thể làm như vậy với cùng một niềm xác tín rằng tất cả những gì chúng ta được mời gọi thi hành chỉ là phần nhỏ bé của chúng ta, và rồi chúng ta sẽ chuyển cây gậy nhạc trưởng ấy cho thế hệ kế tiếp để đến lượt mình và bằng cách làm của mình, họ sẽ tiếp nối công việc của cha Eymard và thực hiện công việc ấy theo kế hoạch của Chúa? Chúng ta có thể không nhìn thấy những thành quả lao động của mình, thế nhưng niềm tin mách bảo chúng ta rằng dự án của Chúa sẽ chắc chắn thành công- vào đúng thời và đúng cách! Nhiệm vụ của chúng ta là tiến bước trong tin yêu.

 

Ngày 20/1
“Một đời sống thuần túy chiêm niệm không thể là đời sống Thánh Thể cách sung mãn: Lò lửa phải phát ra ngọn lửa.” [gửi cho cha De Cuers, tháng 5 năm 1861].
Một trong những sai lầm phổ biến nhất liên quan đến đời sống thiêng liêng chính là sự đối nghịch của hai khuynh hướng: đời sống chiêm niệm và đời sống hoạt động. Chúng ta thường nói về hai khuynh hướng này như thể chúng là hai khía cạnh độc lập với nhau, mỗi khuynh hướng đều có thể tồn tại mà không cần quy chiếu đến khuynh hướng khác. Có lẽ, cách thích hợp hơn cả là chấp nhận cả hai khi xem đời sống Ki-tô hữu đồng nghĩa với đời sống Thánh Thể vốn bao gồm cả hai chiều kích chiêm niệm và hoạt động. Sau hết, Thánh Thể chính là nguồn mạch và trung tâm của đời sống Ki-tô hữu. Bước theo Đức Giê-su như những người môn đệ của Ngài (các Ki-tô hữu) không có nghĩa là làm cho những cảm thức về Thánh Thể nơi Ngài trở thành của chính chúng ta.
 Giờ đây, hai chiều kích của đời sống Thánh Thể là: chiêm niệm mà qua đó chúng ta vẫn ở lại và thinh lặng trước Thiên Chúa như chính Người đã mạc khải cho chúng ta. Điều này chủ yếu xảy ra trong suốt phần Phụng vụ Lời Chúa. Đặc biệt khi chúng ta lắng nghe ‘bằng con tim’ hơn là bằng cái đầu, chúng ta bắt đầu hiểu được Thiên Chúa thực sự là ai, Người đã yêu thương chúng ta, những đứa con yêu quý của Người, như thế nào. Và chúng ta đã được chuẩn bị như thế nào để làm việc cho Người! Tuy nhiên, chiều kích chiêm niệm sẽ không bao giờ là một điểm kết thúc. Một người Ki-tô hữu không thể nói như thánh Phê-rô: “Lạy Thầy, chúng con ở đây thật là hay; nếu Thầy muốn, con xin dựng ba lều, một cho Thầy, một cho Mô-sê và một cho Ê-li-a” (Mt 17,4). Người ta không thể ở lại mãi trên đỉnh núi; người ta cần phải xuống núi và chia sẻ kinh nghiệm với người khác vì điều gì được mạc khải cho một ai đó thì không bao giờ chỉ cho riêng một mình họ. Và điều này làm phát sinh ra chiều kích hoạt động của đời sống Thánh Thể!
Vì thế, vào cuối Thánh Lễ, chính Thánh Thể gửi đến cho các Ki-tô hữu một sứ mạng để ra đi : ‘Lễ xong, chúc anh chị em về bình an!’. Cụ thể hơn, điều chúng ta được mời gọi chính là: ‘Hãy đi và chia sẻ với người khác những gì mà Thiên Chúa vì lòng nhân hậu của Người đã mạc khải cho anh chị em’. Và chính nhờ việc chia sẻ với người khác mà chúng ta lại gặp gỡ Chúa Phục Sinh và thậm chí được mạnh mẽ hơn. Nhớ lại hai môn đệ trên đường Em-mau: họ đã nhận ra Chúa Phục Sinh qua việc bẻ bánh, họ đã mau chóng lên đường quay trở lại Giê-ru-sa-lem để chia sẻ tin mừng với toàn thể cộng đoàn. Và ‘trong lúc họ còn đang nói thì chính Chúa Phục Sinh lại hiện ra giữa họ và nói, ‘Bình an cho anh em!’ (Lc 24,26-39).
Thật không may, hầu hết các Ki-tô hữu dường như chỉ xem việc bước theo Chúa Giê-su như một việc mang tính cá nhân và quy hướng trực tiếp đến lợi ích của riêng mình! Chiều kích tông đồ hoàn toàn bị lãng quên trong đời sống hằng ngày của họ. Sự mất cân bằng này cần được điều chỉnh lại thậm chí trong thời đại của chính chúng ta, vì điều này cũng rất cần thiết trong thời đại của cha Eymard. Hoạt động của chúng ta chính là ngọn lửa giữ cho lửa Thánh Thể luôn cháy sáng suốt cả ngày! Nhưng ngọn lửa không thể tiếp tục bừng cháy lâu được nếu nó không được đốt nóng từ nhiên liệu là chính đời sống cầu nguyện chiêm niệm và thinh lặng trước sự hiện diện chữa lành của Chúa!
 
Ngày 21/1
(Ơn gọi ở Fourviere, 1851).
“Một tông đồ tôn thờ phải luôn luôn tôn thờ và rao giảng về Chúa Giê-su Thánh Thể” [Cuộc đại tĩnh tâm ở Rô-ma, năm 1865]
Trong suy nghĩ của cha Eymard, đời sống của một người tôn thờ hay một tu sĩ Thánh Thể không bao giờ mang ý nghĩa là một sự trốn tránh khỏi thế gian, một kiểu thiên đường, nơi mà họ có thể hoàn toàn tận hưởng tình yêu của Đức Ki-tô (Ở lại trong tình yêu của Thầy!). Đúng hơn, dường như người ấy cảm thấy đó như một lời mời gọi để trở nên một con kênh – lưu chuyển đến những người khác những gì người ấy đã nhận được qua việc cầu nguyện và tôn thờ. Họ càng nhận được những ơn lành từ Thiên Chúa bao nhiêu, họ lại càng mong ước chia sẻ cho người khác bấy nhiêu, đặc biệt là đối với những con người đang đói khát tìm kiếm một giá trị và ý nghĩa trong cuộc sống: người nghèo, những người không ai cần đến chẳng hạn những người ở các khu ổ chuột mà cha Eymard đã phục vụ – thực ra tất cả họ đều là những gánh nặng của xã hội.
Chúa Giê-su đã đến để chúng ta được sống dồi dào, để mỗi người có thể nhận ra nhân phẩm của mình là con cái của Thiên Chúa và sống đúng nhân phẩm đó. Trong mọi lúc, một người tôn thờ sẽ dùng thời giờ để cầu nguyện và chiêm niệm, người ấy phải kín múc được từ cái nhìn sâu thẳm của Chúa Cha về thế gian, nơi mà những đứa con yêu dấu của Người hiện thời vẫn còn phải chịu thử thách. Cái nhìn đó vượt xa sự nhận biết chưa được hoàn thiện nơi chúng ta, vì thế người tôn thờ nhận thấy mình bị lôi cuốn bởi sự thúc bách để lấp đầy những khoảng trống giữa cái là và cái nên là.
Người ấy cảm thấy sự thúc bách này mang một giá trị vì sự gần gũi với Chúa Cha mà người ấy cảm nghiệm được khi cầu nguyện. Người ấy ghi khắc mong ước trong trái tim của Đức Ki-tô, Đấng đã nói: “Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một người mục tử” (Ga 10,16-18). Kết quả gặt hái được trong việc cầu nguyện đó là: người ấy nhận ra Thiên Chúa sẽ căn cứ vào sự cộng tác của người ấy để hoàn thành nhiệm vụ quy tụ những con chiên lạc ở khắp trần gian này. Niềm khao khát trong tâm hồn Đức Ki-tô thiêu đốt người tôn thờ giống như một ngọn lửa và sai người ấy tiến về phía trước với một sứ mạng cấp bách: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30).
Người tôn thờ đích thực sẽ hiểu biết rằng Chúa Giê-su vẫn bị che giấu nhưng hiện diện một cách bản thể nơi Thánh Thể không chỉ để đón nhận sự tôn thờ và lời tạ ơn của chúng ta, nhưng để lôi kéo mọi người về với Chúa Cha: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên! Thầy có một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!” (Lc 12,49-51). Đây là sứ điệp của Ngài cả trong lời nói cũng như hành động, trong suốt cuộc đời của Ngài! Ngài không thể nghỉ ngơi cho đến khi từng người đều nghe được sứ điệp cấp bách này, và được linh hứng để đáp trả một cách tích cực. Bấy giờ, Ngài không cần biết chúng ta đến với những người đã đi qua cuộc đời của chúng ta như thế nào. Thực tế, chính Chúa mới là Đấng dẫn dắt mọi người đến với chúng ta, và yêu cầu của Ngài đó là chúng ta hãy chia sẻ với họ tình yêu cứu độ của Ngài dành cho họ. Họ cần nghiệm ra rằng tình yêu này được làm cho tươi mới và được diễn tả bằng ngôn ngữ của loài người trước khi họ có thể dâng hiến hoàn toàn chính mình vào bàn tay của Chúa. Đã bao giờ chúng ta nói rằng mình đã giảng về Ngài đủ chưa?
 
Ngày 22/1
Người ta thường nói rằng cha (thánh Phê-rô Giu-li-a-nô) đã không biết điều cha muốn biết, vì cha là một con người của sự sung mãn và cha đã muốn mọi thứ. (Giám mục Fougerat -Giáo phận Grenoble). “Chúng ta muốn nắm trọn tất cả suy tư về Thánh Thể” [Gửi cho cha De Cuers, tháng 3/1856]; “chúng ta muốn nắm trọn toàn bộ Nhiệm Tích Thánh” [Gửi cho Virginie Danion, tháng 8/1857]
Trong khi những lời của Đức Giám Mục Fougerat dường như là để giới thiệu cha Eymard như một con người đã không biết điều thực sự muốn biết, thì từ một góc độ khác, những lời ấy cho thấy chiều sâu trong sự hiểu biết của cha về những vấn đề tâm linh trong thời đại cha. Cha đã ý thức sâu sắc rằng đó không phải chỉ là một khía cạnh nào đó của Thánh Thể vốn là giải pháp cho những vấn đề, nhưng là tất cả và toàn bộ Thánh Thể. Mặc dù cha Eymard đã không có sẵn trong tay những thuật ngữ thần học giá trị như chúng ta dùng ngày nay sau Công đồng Vaticanô II, nhưng cha lại nhắm trúng đích – không có một sự rút ngắn nào của toàn thể Mầu Nhiệm Thánh Thể lại có thể là lời giải đáp thực sự cho mọi vấn đề của nhân loại!
Rõ ràng, quan điểm này của cha Eymard được giải thích chi tiết hơn trong Luật Sống hiện tại của các tu sĩ Thánh Thể. Trong khi hầu như tất cả các hội dòng và tu hội khác không có nhiều hơn một số trong Luật/Hiến pháp của mình liên quan đến Thánh Thể, thì Dòng Thánh Thể lại có cả một loạt điều khoản từ số 21-32 đề cập đến sự sung mãn của Thánh Thể như một quà tặng của Thiên Chúa dành cho chúng ta qua Con của Ngài là Đức Giê-su. Hơn nữa, trong các số 33-45, chúng ta có cả một danh mục những phương tiện khác nhau mà nhờ đó các tu sĩ Thánh Thể đặt những khía cạnh của mầu nhiệm Thánh Thể trong việc đến với dân Thiên Chúa. Vì Thánh Thể được ban cho chúng ta nhằm mục đích biến đổi thế giới, Thánh Thể không thể phát sinh những hiệu quả tròn đầy nếu mỗi người và mỗi tình cảnh của con người không diễn ra dưới ảnh hưởng của sự biến đổi này.
Vì đây là một thực tại hữu hiệu ở giữa chúng ta, chúng ta sẽ phải tập trung vào toàn thể mầu nhiệm Thánh Thể – không chỉ vào khía cạnh cử hành, như nhiều người thường làm, nhưng còn vào chiều kích cầu nguyện nữa. Tất cả các Ki-tô hữu hiểu được tầm quan trọng cũng như giá trị của việc cử hành Thánh Thể, ít nhất là việc cử hành ngày Chúa nhật, nhưng hầu như người ta ít dành thời gian để nội tâm hóa những gì mình đã cử hành qua lối cầu nguyện của việc tôn thờ kéo dài. Và hơn nữa, những gì chúng ta đã cử hành cũng như nội tâm hóa qua việc cầu nguyện cần phải được sống hay biến đổi thành những hành động cụ thể trong từng ngày sống. Khi nhìn vào thế giới này, chúng ta bắt gặp vô số những bước khởi đầu tuyệt vời vốn thực sự có nguồn gốc “Thánh Thể”, vì những bước khởi đầu này vô vị lợi và vị tha – thế nhưng vẻ đẹp của những bước khởi đầu này nằm ở chỗ chúng được phát động và được thực hiện bởi những con người có lẽ chưa bao giờ nghe nói về Thánh Thể cả! Quả là một ơn linh hứng không chỉ dành cho tất cả các tu sĩ Thánh Thể đã cam kết sống sung mãn mầu nhiệm Thánh Thể (LS #1)! Chẳng lẽ chúng ta lại không ngừng khám phá và sáng tạo trong việc làm cho Thánh Thể trở thành nguồn mạch và chóp đỉnh của đời sống không chỉ của Hội Thánh mà của toàn thế giới này?
Luật Sống số 33 của chúng ta nói rằng ‘Khả năng diễn đạt hồng ân Thánh Thể của Người trong nhiều tác vụ rất khác nhau, thúc đẩy chúng ta cứ sáng tạo thêm mãi, trong sứ vụ của chúng ta.’ Chính ngọn lửa tình yêu của Thiên Chúa đang bừng cháy trong chúng ta sẽ thúc đẩy những sự diễn tả mới hơn và tốt hơn trong hoạt động tông đồ!
 
Ngày 23/1
“Chúng ta chỉ có một ý nghĩ, chỉ một cùng đích, chỉ một tâm điểm: Thánh Thể! Chúng ta được chúc phúc nếu chúng ta có thể trở nên chuyên biệt trong việc dẫn dắt đức tin và tình yêu của Thánh Thể đến với những ai hờ hững và ích kỷ trong xã hội khốn khổ của chúng ta.” [Gửi cho Clappier, tháng 7/1856]
Trong cái nhìn về Hội dòng Thánh Thể, cha Eymard muốn các tu sĩ của mình trở nên những người lãnh đạo, những người đi thắp lửa, dùng mọi kỹ năng của mình, mọi tính cách của con người mình, mọi năng lực của mình để loan truyền ngọn lửa Thánh Thể cho khắp thế giới. Họ chỉ tập trung vào một thực tại duy nhất – Thánh Thể, và làm cho Thánh Thể đến được với mọi người, để mọi người có thể ở lại trong tình yêu vô biên của Thiên Chúa!
Trong khi đây là lối nhìn ban đầu của cha Eymard, thì có thể sau nhiều năm, mục tiêu của chúng ta sẽ được chuyển sang những thực tại khác. Bên cạnh việc quy hướng về Thánh Thể, một cách nào đó, chúng ta đã dựa vào một cách tiếp cận truyền thống đơn thuần, dựa vào lòng tôn sùng hời hợt của các Ki-tô hữu. Trong khi có nhiều bước khởi đầu mới được phát động trong những năm gần đây, chắc chắn những bước khởi đầu này sẽ không thể đến được với tất cả những con người trong xã hội hiện đại của chúng ta vốn là những người ‘hờ hững và ích kỷ’. Những con người này thực sự không quan tâm gì đến sứ điệp mà chúng ta làm chứng, khiến cho thách đố này ngày càng tiếp thêm sinh lực, linh hứng cho chúng ta trở nên sáng tạo và năng động.
Chúng ta có thể học được rất nhiều từ thế giới hợp tác kinh doanh ngày nay, trong đó chúng ta thấy rằng những chiến lược Nghiên cứu và Phát triển của họ luôn luôn gặp những thách đố mới- nếu không họ sẽ không có chỗ đứng trong thị trường cạnh tranh cao độ. Họ không thể ngủ quên trên những chiến thắng cũng như trên vinh quang của những thành tựu trong quá khứ. Thậm chí trước khi khách hàng chỉ ra những khiếm khuyết trong những sản phẩm mới của họ, họ sẽ nỗ lực để đạt đến một sản phẩm ‘không có khiếm khuyết’ với mục tiêu đảm bảo rằng họ vẫn luôn luôn dẫn đầu. Những gì họ khám phá ra trong việc nghiên cứu của mình phải trở nên thông dụng thậm chí cho người công nhân mới vào làm để kết quả của những khám phá này có thể được sử dụng một cách tối ưu. Có một lưu ý trong số những điều này là luôn luôn có một sự thúc đẩy hướng đến việc thăng tiến và chống lại nền tảng đáng phải lắng nghe trong lời khuyên của thánh Phao-lô gửi cho tín hữu Cô-rin-tô: “Anh em không biết rằng, trong cuộc chạy đua trên sân vận động, tất cả mọi người đều chạy, nhưng chỉ có một người đoạt giải sao? Anh em hãy chạy thế nào để đoạt cho được. Phàm là tay thi đấu, thì phải kiêng kỵ đủ điều, song họ làm như vậy là để đoạt giải thưởng chóng hư; trái lại, chúng ta nhằm giải thưởng không bao giờ hư nát” (1 Cr 9,24-26).
Khi mọi sự đứng yên, thì dường như là ‘thế giới’ tiếp tục con đường của nó là làm cho Hội Thánh cũng như chúng ta, những tu sĩ Thánh Thể càng lùi lại phía sau, khiến chúng ta ngày càng trở nên một di tích của quá khứ không có chỗ trong cuộc cạnh tranh quyết liệt của thế giới ngày nay! Thật là một thách đố đối với tất cả chúng ta, khi chúng ta cử hành 200 năm ngày sinh của cha Eymard! Chúng ta được mời gọi khám phá những nhu cầu của con người thời đại hôm nay để có thể đem đến cho họ giá trị, sự sáng suốt cũng như hiệu quả. Những khuynh hướng trong thế giới toàn cầu hóa ngày hôm nay cho chúng ta thấy rằng hầu hết mọi người ít quan tâm đến những chân lý và giá trị đích thực của Tin Mừng. Thế nhưng, những ai tìm cách trình bày những giá trị cũ bằng thành ngữ và ngôn ngữ hiện đại, thì sẽ cho thấy những nỗ lực ấy có thể thành công biết là dường nào. Vả lại, điều chúng ta cần chính là ngọn lửa của tình yêu Thánh Thể đang bừng cháy nơi mỗi người chúng ta!
 
Ngày 24/1
“Chúng ta phải trở nên những tông đồ, những thừa tác viên và những công cụ của Thánh Thể; (…) Đây chính là tâm điểm của đời sống chúng ta, nguồn mạch sự sống cho hành động và hoạt động tông đồ của chúng ta. (…) Chúng ta phải rao truyền về Thánh Thể bằng những công trình của chúng ta, bằng những bài viết cũng như bằng lời nói của chúng ta; không ai có thể nói hay hơn chúng ta về Thánh Thể: Chúng ta là những tu sĩ của Thánh Thể.” [Tĩnh tâm tại Paris, tháng 8 năm 1867].
Lời trích dẫn này rút ra từ những bài viết của cha Eymard rõ ràng cho thấy cha rất tự hào về Hội Dòng nhỏ bé phụng sự cho Bí Tích Thánh Thể của cha. Bên cạnh đó, cha nhận ra rằng từ giữa muôn người, cha chính là người đã được tuyển chọn để thành lập nên Hội Dòng Thánh Thể, một Hội dòng được trao phó nhiệm vụ loan truyền tình yêu Thiên Chúa như là thực tại cốt yếu trong đời sống con người. Vì thế, có hai điều quan trọng đối với cha Eymard khi làm công tác động tông đồ: (1) hết mình vì công việc trong mọi tình huống đã được Đấng Toàn Năng vạch ra cho chúng ta. Và thứ (2) đó là không quan trọng hóa và không xem thường đóng góp của chúng ta.
Ẩn ý bên trong sự hiểu biết này cũng chính là điều cho thấy sứ vụ Thánh Thể chính là ân huệ đặc biệt Chúa ban cho chúng ta. Thật không may, nhiều tu sĩ Thánh Thể không nhận ra được vị trí trung tâm của hoạt động tông đồ Thánh Thể, mà lại xem những hình thức hoạt động tông đồ khác cuốn hút hơn, hấp dẫn hơn, mạnh mẽ hơn hay thậm chí là quyến rũ hơn. Quả thực Thánh Thể là trung tâm, hầu hết mọi khía cạnh khác của đời sống Ki-tô hữu đều có thể được liên kết với Thánh Thể. Nhưng Thánh Thể đúng nghĩa phải là gia tài đầu tiên và duy nhất của chúng ta, và chúng ta tìm cách làm chứng rõ hơn nữa về lối sống khởi đi từ Thánh Thể! (LS #21).
Cha Eymard luôn nhắc nhở chúng ta về nền tảng cốt yếu và tuyệt đối trong các hoạt động tông đồ Thánh Thể của chúng ta. Như thánh Phao-lô đã nói trong thư 1 gửi tín hữu Cô-rin-tô ở câu 13 như sau: ‘Nếu tôi không có đức mến, mọi sự chỉ là vô nghĩa… Tôi chẳng là gì!’ Hơn nữa, khi hoạt động tông đồ Thánh Thể của chúng ta được thực hiện trong tinh thần đúng đắn, Cái Tôi sẽ có ít cơ hội để thể hiện. Điều này làm cho nó trở thành một hoạt động tông đồ đặc biệt, nghĩa là cho thì có phúc hơn là nhận. Nhưng, chắc chắn, điều này rất khó và đòi hỏi Cái Tôi nghèo nàn vốn luôn tìm kiếm một sự đền bù nào đó cho chính mình… và nếu không tìm được, nó sẽ dùng thủ đoạn để chiếm hữu sự vật dưới nhiều cách khác vốn không được để ý tới ngoại trừ các chuyên gia và người hướng dẫn có kỹ năng. Và khi Cái Tôi nổi lên, hoạt động tông đồ bị hủy hoại và hình ảnh của Thiên Chúa bị bóp méo cũng như mọi thứ sẽ tàn lụi vì nó chỉ quy về chính mình.
Bên cạnh đó, chúng ta cần dùng mọi phương tiện sẵn có để truyền bá sứ điệp tình yêu quan trọng này. Chúng ta không chỉ hướng đến những gì trong tầm tay của chúng ta và trong tầm với của chúng ta, nhưng chủ yếu là vào những gì sẽ làm cho sứ điệp của chúng ta được lắng nghe một cách hiệu quả hơn và được đón nhận rộng rãi hơn. Và khi thử thách xảy đến – chúng ta nên xem chúng như những mối quan tâm trong lĩnh vực của chúng ta, để không ai có thể được xem là tốt hơn chúng ta. Đây không phải là sự tự hào cá nhân, nhưng là một lời cam kết hoàn toàn với điều kiện của Chúa Giê-su. Và nơi nào chúng ta thiếu đi những kỹ năng tự nhiên cũng như năng khiếu, chúng ta sẽ bù đắp bằng sự khiêm tốn, sự đổ vỡ, niềm tin và tình yêu của chúng ta; chúng ta đặt trọn con người chúng ta vào bàn tay uy quyền của Chúa và để cho Người hoạt động trong và qua chúng ta. “tôi sống, nhưng không còn phải là tôi mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2,20).
 
Ngày 25/1
“Chúa chúng ta đã làm cho tôi hiểu ra rằng Người ưa thích quà tặng nơi trái tim tôi hơn tất cả những quà tặng bên ngoài khác mà tôi dâng cho Người, thậm chí nếu tôi dâng cho Người trái tim của mọi người mà lại không dâng chính mình tôi cho Người.” [Cuộc đại tĩnh tâm ở Rô-ma, 1865]
Ở đây, cha Eymard xoáy vào chân lý nền tảng nhất trong hoạt động tông đồ của các Ki-tô hữu. Trong khi tình yêu Thiên Chúa là đạo lý nền tảng trong niềm tin của chúng ta, thì lời đáp trả đầy yêu thương của chúng ta giống như điểm căn cốt làm cho hoạt động tông đồ của Ki-tô hữu phát sinh hoa trái. Những gì chúng ta làm không quan trọng bằng tinh thần chúng ta đặt vào trong đó. Và Tình Yêu chính là tinh thần biến đổi tất cả hoạt động của chúng ta và làm cho nó không chỉ được Thiên Chúa chấp nhận, mà còn đem lại những hoa trái và kết quả khả quan. Chúng ta nhớ lại bài ca đức ái của thánh Phao-lô- ‘giả như tôi nộp thân thể tôi để chịu thiêu đốt, mà không có lòng yêu mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi…’ (1 Cr. 13,1-3).
Nhiều lúc, chúng ta quyết định tặng những món quà bên ngoài cho những người mình yêu mến, chúng ta tưởng tượng rằng chúng ta càng cho nhiều thì họ càng cảm thấy hạnh phúc hơn. Cha mẹ thường rơi vào cạm bẫy này, họ hành động theo cách của mình để cho con cái nhiều thứ- nhưng không đủ cho chính chúng, cho thời giờ của chúng, sự hiện diện của chúng, tình yêu và sự hiểu biết của chúng. Và khi con cái dường như cảm thấy sung sướng, họ nhận ra rằng họ quên đi những điều căn bản. Trong mối tương quan của chúng ta với Chúa cũng vậy, tình yêu sâu đậm và hiểu biết của chúng ta là cái tạo nên sự khác biệt, chứ không phải là những cái bên ngoài.
‘Hỡi con, hãy dâng cho ta trái tim của con’ (Cn. 23.26)- là một đòi hỏi của Thiên Chúa đối với mỗi người chúng ta. Và cho đến khi chúng ta thực sự dâng cho Người trọn cuộc sống của chúng ta (biểu tượng bằng trái tim) bằng tình yêu, lời đề nghị của Người sẽ vang mãi bên tai chúng ta! Thiên Chúa biến đổi chúng ta bằng mối dây liên kết mật thiết với Người và cho tới khi đó, mọi sự sẽ không thể thay thế được nó. Nếu chúng ta có thể nói rằng: ‘Tất cả những hành động cuồng dại của chúng ta nếu không có lòng yêu mến thì sẽ chẳng vươn tới được Thiên Chúa; nhưng tình yêu sâu thẳm của chúng ta dù đi kèm với một việc làm nhỏ bé cũng sẽ làm vui lòng Người nhất.’
Cách làm này dường như rất tự nhiên, vì đây là cách mà chính chúng ta cảm thấy nơi người khác khi họ nói là yêu mến chúng ta, chúng ta thường không nhìn vào sự ngớ ngẩn của chính chúng ta trong tương quan với Thiên Chúa. Việc chúng ta nhận thức rõ được “khuynh hướng thích đặt sự vật lên trên con người” quả thực là một ân huệ đến từ Chúa Cha. Không ngạc nhiên gì khi cha Eymard viết: “Chúa chúng ta đã làm cho tôi hiểu ra rằng Người ưa thích quà tặng nơi trái tim tôi hơn là những quà tặng bên ngoài mà tôi dâng cho Người…”
Thế nên, không cần băn khoăn lắm khi cha Eymard nhắc đi nhắc lại bằng nhiều cách khác nhau về điểm cốt yếu của tình yêu dành cho các tu sĩ Thánh Thể. Cha đòi hỏi rằng ngay từ ngày bước vào nhà tập, khía cạnh này cần phải được chú trọng và luôn được trau dồi. Khi chúng ta nhìn vào Hội Dòng ngày nay, và đặc biệt khi chúng ta lắng nghe những lời khiển trách được nhắc đi nhắc lại của Ban Cố Vấn Tổng Quyền, chúng ta nhận ra rằng đây chính là một lĩnh vực mà trong đó chúng ta có nhiều thúc bách và nhiều công việc hữu ích hơn để làm. Kỷ niệm hai trăm năm có thể là một sự khích lệ đáng kể về phương diện này.
 
Ngày 26/1
(Trong suốt giờ cám ơn sau Thánh Lễ vào 21/3/1865, khi đề cập đến mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời và sự kết nối giữa mầu nhiệm ấy với việc Hiệp lễ, Thánh Phê-rô Giulianô nói: “Và chính vì muốn ở lại trong tôi, nên Ngài đã ban chính mình Ngài qua việc Hiệp Lễ. Như Chúa Cha hằng sống đã sai Tôi, và Tôi sống nhờ Cha thế nào, thì kẻ ăn Tôi cũng sẽ sống nhờ Tôi như vậy (Ga 6,57)… Vì thế, qua việc Hiệp lễ, con sẽ sống nhờ Ta, vì Ta sẽ sống trong con… Vì thế, con sẽ hoàn toàn mặc lấy Ta. Con sẽ trở thành chi thể của tâm hồn Ta; linh hồn của con sẽ trở thành những khả năng tích cực của linh hồn Ta; tâm hồn con, bình đựng, sẽ trở thành nhịp đập của tâm hồn Ta. Ta sẽ trở nên ngôi vị của nhân cách con, và nhân cách của con sẽ là sự sống của Ta ở trong con. (Xem Gl 2,20) [Cuộc đại Tĩnh tâm ở Rô-ma, 1865]
Trong lời trích dẫn này, cha Eymard diễn tả sự kết hiệp nội tâm nảy sinh nhờ Thánh Thể- một sự kết hợp thực sự của hai sự sống thành một. ‘Không phải tôi sống, nhưng chính Đức Ki-tô sống trong tôi’ là cách nói của thánh Phao-lô về vấn đề này. Tuy nhiên, cha Eymard làm cho điều này mang tính cá nhân hơn. Vận dụng việc giải thích mang tính triết học có sẵn vào thời đại mình, cha so sánh mình với “bản tính nhân loại” mà Ngôi Hai Thiên Chúa đã Nhập Thể. Bản tính nhân loại ấy vẫn không bị cá nhân hóa, điều đó có nghĩa là không được dán nhãn bởi Cái Tôi hay Bản Ngã và đó là lý do vì sao nó hoàn toàn thuộc về Bản tính của Thiên Chúa mà không có gì khác có thể  cạnh tranh để cai trị. Thiên Chúa chính là ngôi vị của Đức Giê-su.
Sự kết hợp nhiệm mầu được hình thành bởi Thánh Thể, sự kết hiệp không gì khác hơn là sự kết hiệp giao ước được Thiên Chúa hứa trong suốt thời Cựu Ước, là một sự tổng hợp sâu sắc của phẩm chất này. Trong sự kết hiệp ấy, con người không đánh mất những phẩm chất con người của mình- cái bị mất chính là “tính ích kỷ” của Cái Tôi- Việc nhấn mạnh đến “Tôi”, “của tôi”… tất cả đều đối nghịch với sự cai trị tự do của Thiên Chúa trong cuộc sống của con người. Trong mầu nhiệm Nhập Thể, có một sự quy phục hoàn toàn của nhân tính đối với thiên tính bởi ý định của Thiên Chúa, thì ở đây cũng có một sự chọn lựa tự do liên quan đến việc từ bỏ những gì người ta có thể sở hữu một cách hợp pháp (làm chủ cuộc đời mình), mặc dù với những tình cảnh thảm khốc. Vì sự từ bỏ này lệ thuộc vào một sự chọn lựa tự do, nên nó cần phải luôn luôn được lặp lại cho tới khi trở thành một thói quen; chỉ khi ấy mới có thể đạt được sự tự do và tự phát.
Vì thế, việc cử hành Thánh Thể thường xuyên và đầy đủ ý nghĩa sẽ trở thành một sự cần thiết cho những ai khao khát sống đời tận hiến cho Chúa Cha. Việc cử hành Thánh Thể không thể bị nhơ bẩn bởi bất kỳ thói quen nào, sự chai lì, chia trí… Tuy nhiên, việc cử hành ấy không cần phải trở nên buồn thảm, khô khan- khi được làm bằng tình yêu, thì việc cử hành ấy có thể là kinh nghiệm vui tươi nhất. Không có gì đầy tràn hơn là được đầy tràn sự hiện diện của chính Thiên Chúa, dù khi điều đó đòi chúng ta phải trả giá! Và cái giá đó thì phương hại và bất lợi cho toàn bộ hạnh phúc của chúng ta. Vì Cái Tôi không chỉ làm cho chúng ta xa rời Thiên Chúa, nhưng còn xa rời những người xung quanh nữa. Dưới cái nhìn của mọi người, kẻ ích kỷ thì thật đáng ghê tởm. Thật là một sự khác biệt khi người ta được tràn đầy sự hiện diện yêu thương của Thiên Chúa!

 

Ngày 27/1
“Thánh Thể phải trở thành mối bận tâm riêng, tư tưởng quen thuộc và thường xuyên, mục tiêu của những tu sĩ Thánh Thể.” [Suy niệm]
Đây là cách nói đơn giản khác cho thấy Thánh Thể phải là tâm điểm đời sống của mỗi tu sĩ Thánh Thể. Để điều này có thể xảy ra, người ta sẽ cần phải đi sâu vào suy nghĩ và tâm hồn của cha Eymard, và có lẽ là phải lần theo dấu vết của cuộc hành trình mà cha đã thực hiện trong cuộc đời cha, cho đến khi cha đạt đến tầm mức của việc dâng hiến hoàn toàn và vĩnh viễn bản thân mình cho Chúa Giê-su và Chúa Cha. Đối với cha Eymard, đây là một cuộc hành trình dài, cha ước ao rằng những học trò của cha có thể làm việc này trong khoảng thời gian ngắn hơn và không cần phải nỗ lực nhiều, khi họ học được từ kinh nghiệm của chính cha. Cha có ý chỉ ra cho họ con đường đó!
Tuy nhiên, người ta phải thừa nhận rằng việc học hỏi phương pháp từ kinh nghiệm của người khác có thể đem đến cho người ta những bước đi khác nhau, điều gì đảm bảo rằng người học sẽ nỗ lực để cũng có được sự đam mê, sự kiên trì và sự cho đi hoàn toàn bản thân mà chính Đấng sáng lập đã làm- cũng như đến cuối cuộc đời dương thế của ngài? Bên cạnh đó, khi tìm hiểu cuộc đời của cha, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn rằng cha Eymard là một trong số những con người được tuyển chọn một cách đặc biệt. Ân sủng của Thiên Chúa không trở nên vô ích nơi con người của cha. Phải thừa nhận rằng thậm chí ngày nay, Chúa Cha cũng tuyển chọn nhiều người có lòng quảng đại cho những ân huệ tương tự, hành trình thiêng liêng của mỗi người là độc nhất vô nhị và không thể lặp lại được. Vì thế, chúng ta phải chuẩn bị để chấp nhận những khác biệt nơi hai cuộc hành trình này ở những mức độ khác nhau.
Tuy nhiên, những yếu tố nền tảng vẫn còn tồn đọng: một niềm say mê để gìn giữ tình yêu trở thành thực tại trung tâm và nền tảng cho cuộc sống của con người, một tiến trình đào tạo hay học tập trong vấn đề tình yêu, một sự theo đuổi không ngừng nghỉ chân lý nền tảng và một sự trở về thường xuyên khi cần thiết. Phải thừa nhận rằng những ân sủng này sẽ được ủy thác cho những học trò của cha Eymard trong việc đo lường sự quảng đại. Ngày nay, chúng ta, những tu sĩ Thánh Thể, có thể quảng đại dâng hiến chính mình cho việc thực hành thường xuyên này, dựa vào sự quảng đại cũng như tình yêu của cha Eymard để biến điều này cũng trở thành một thực tại đối với chúng ta. Chúng ta sẽ cần phải tìm nhiều cách thế và phương tiện để làm cho Thánh Thể trở thành tâm điểm của việc tham khảo. Chúng ta có thể đặt câu hỏi, chẳng hạn như ‘hành động mà tôi đang thực hiện liên hệ đến Thánh Thể mà tôi đã cử hành trước kia như thế nào?’; ‘bằng cách nào để hướng đến “quà tặng bản thân” mà tôi đã thực hiện trong Thánh lễ?’ ‘sứ điệp tình yêu của Chúa Cha chiếu rọi ánh sáng vào tình cảnh khó khăn hiện tại của tôi như thế nào?’
Lao vào lối sống này có thể là một viễn cảnh hết sức mạo hiểm- vì Chúa Cha sẽ không bao giờ chịu thua lòng quảng đại. Chúng ta có dám đưa ra một cố gắng chân thành và quảng đại không? Thay vì làm cho chúng ta hao mòn, việc quy hướng về Thánh Thể quả thực là sẽ sinh nhiều hoa trái và ích lợi lớn lao. Một người có niềm say mê như thế sẽ thực sự làm được những việc lớn lao, dù đó là khía cạnh tâm linh hay khía cạnh khác. Điều ấy giống như một tia nắng mặt trời chiếu rọi vào một điểm- thậm chí nó sẽ đốt cháy một mẩu giấy đặt tại điểm đó! Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta thường không thỏa mãn với một thanh sắt được nung chảy- chúng ta muốn có nhiều thanh sắt được nung chảy vì điều này làm cho chúng ta bận bịu- nhưng lại không tập trung được?!?
 
Ngày 28/1
“Bao lâu chúng ta không có một tình yêu say đắm đối với Thánh Thể, chúng ta sẽ không làm được bất cứ việc gì cho Thiên Chúa. (…) Hãy có một niềm đam mê đối với Thánh Thể. (…) Ngài là Đấng phải được yêu mến (…) tình yêu bao gồm cả sự phóng đại. Phóng đại thì vượt trên luật lệ (…) Khi điều này trở thành ý nghĩ quen thuộc của bạn, con người của bạn, ước muốn thường xuyên của bạn, thì bạn sẽ có được niềm đam mê ấy…” [Tĩnh tâm hàng tháng, 10/1867]
Điểm phân biệt tu sĩ Thánh Thể với tất cả các tu sĩ khác và thậm chí là với giáo dân, đó chính là niềm say mê đối với Thánh Thể, một niềm say mê sẽ dẫn họ đến chỗ “phóng đại”, cha Eymard nói: vì phóng đại thì vượt ra khỏi luật lệ… vượt ra khỏi những gì là phù hợp và hợp lý, vượt ra khỏi những gì mà những người khác sẽ làm. Thực ra, cũng như một tu sĩ Dòng Tên luôn luôn tìm kiếm “uy quyền” (vinh quang cao cả của Thiên Chúa) trong mọi sự người ấy làm, thì người tu sĩ Thánh Thể cũng kiên vững vì lòng quảng đại của người ấy trong việc yêu mến tất cả các khía cạnh làm nên nhân đức cao trọng này (1Cr 13,1-13).
Vì thế, niềm say mê của người ấy không chỉ là tha thứ 70 lần 7, như Tin Mừng khuyên, nhưng thậm chí còn vượt trên cả điều đó. Người ấy làm cho mình bị bẻ nát và bị tiêu hao bởi người khác vốn là những người được thăng tiến nhờ lòng tốt và lòng nhân từ của người ấy. Tương tự như vậy, trong khả năng và việc phục vụ của người ấy, người ấy thậm chí còn sẵn sàng chết vì người khác. Và “người khác” ở đây không phải chỉ là những người mau mắn đáp trả lại chúng ta, hay đối xử tốt với chúng ta, nhưng là bất cứ ai mà Thiên Chúa đặt vào trong phạm vi tình yêu của chúng ta! Và thường thì những người này sẽ thực sự là “những người không được yêu mến” theo những tiêu chuẩn của thế gian!
Đây không chỉ là một ý nghĩ không tưởng vốn chỉ đạt được qua việc nghiến răng và chọc thủng nó, đến những gì có thể- nhưng đúng hơn, đây là một ân huệ của Chúa Cha, Đấng đã hứa và ban cho tất cả những ai quảng đại chấp nhận đi theo ơn gọi Thánh Thể. Chúa Cha sẽ không bao giờ chọn hay gọi và sai đi mà lại không trang bị cho người ấy “đặc sủng” và những kỹ năng cần thiết khác. Vì thế, chúng ta có thể trông mong vào lòng trung thành của Thiên Chúa vì các tu sĩ Thánh Thể được mời gọi để sống Thánh Thể một cách sung mãn nhất, chúng ta đã được ban tặng ân huệ, đó là niềm say mê thực sự đối với Thánh Thể. Vì thế, toàn bộ câu hỏi này, nói theo những thuật ngữ cụ thể, nung nấu để chúng ta nhận ra niềm say mê này hầu làm cho Thánh Thể trở thành tâm điểm của đời sống chúng ta.
Một nụ cười có thể là một sự trợ giúp. Chúng ta biết rằng ngay cả những thần đồng được xem là có năng khiếu chơi đàn piano cũng cần phải luyện tập và trải qua quá trình đào luyện gian khổ ít nhất là từ 6 đến 7 giờ mỗi ngày dù cho có xảy ra chuyện gì đi nữa cũng như là phải mất nhiều năm, nếu những thần đồng này muốn gặt hái được thành công. Trong trường hợp chúng ta cũng thế, tin tưởng vào ân huệ mà chúng ta đã nhận được, chúng ta cần phải dấn thân và kiên trì, tận dụng mọi cơ hội có được để làm cho Thánh Thể cũng như những giá trị của Thánh Thể được tỏ rạng qua tất cả những gì chúng ta suy nghĩ, ước muốn hay nói ra. Điều này sẽ mau chóng trở thành một “điều kỳ diệu trước mắt chúng ta- đó chính là công trình của Chúa, và thực sự chúng ta vui mừng hoan hỷ!” (Tv 126). Những nỗ lực chúng ta thực hiện trong đường lối của tình yêu sẽ đem những ơn phúc đến cho tất cả mọi người xung quanh chúng ta! Vì ở đâu có tình yêu, thì ở đó Thiên Chúa ngự trị.
 
Ngày 29/1
“Phòng Tiệc Ly chính là biểu tượng của sự kết hợp riêng tư với Thiên Chúa và tình liên đới với mọi người, vốn là những hoa trái của Thánh Thể” [ ]
Tất cả chúng ta biết rằng cho đến cuối đời, Phòng Tiệc Ly tại Giê-ru-sa-lem đã trở thành một mơ ước không chỉ riêng đối với cha Eymard mà còn với tất cả đồ đệ của cha. Họ đã cố gắng để giành được ngôi nhà  này, trước tiên là qua những nỗ lực của cha De Cuers, và khi những nỗ lực ấy không thành, thì cha Eymard  được ủy quyền để dùng ảnh hưởng của mình mà giành được mối lợi ấy cho gia đình Thánh Thể. Sau nhiều tuần cố gắng cùng những chuyến đi lại đến những văn phòng của Vatican ở Rô-ma, cha Eymard nghiệm ra rằng Thiên Chúa ban cho cha cũng như những đồ đệ của cha một thứ còn giá trị hơn: Cuối cùng, cha khám phá ra “Phòng Tiệc Ly nội tâm” nơi cung lòng mỗi người, nhưng đặc biệt là nơi chính cung lòng của cha.
Nơi gặp gỡ nội tâm này là nơi bền vững hơn, dễ dàng đến gần được hơn mỗi khi cần, trong sự hiểu biết và kiểm soát của chính chúng ta và là nơi tốt nhất, được cất giấu khỏi cái nhìn của người khác, cho phép chúng ta kết hiệp mật thiết hơn với Thiên Chúa, là Chúa của cuộc đời chúng ta. Điều răn trọng nhất mà Chúa Giê-su dạy bảo chúng ta chính là chúng ta yêu mến Thiên Chúa bằng một tình yêu nồng cháy cũng như yêu thương cả anh em mình nữa… tình yêu này sẽ phân thành hai hướng chất chồng lên thực tại.
Cuộc phiêu lưu trong tình yêu của chúng ta bắt đầu với Chúa Cha như thánh Gio-an nói: “Tình yêu cốt ở điều này: Không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội chúng ta” (1 Ga 4,10-11).  Thánh Phao-lô thậm chí còn làm sáng tỏ điều này hơn khi nói: “Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5,8-9). Dù chúng ta bất xứng, Thiên Chúa vẫn đi bước trước để yêu thương chúng ta, tuôn đổ tình yêu của Người trên chúng ta qua Thánh Thần của Người. Nhưng tình yêu không phải là một món hàng bày bán ở chợ; nhưng là một tương quan cá nhân với người khác. Vì thế, nơi diễn ra sự trao đổi tình yêu vĩ đại chính là Phòng Tiệc Ly, cốt lõi trong con người của chúng ta, nơi mà Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần đến cư ngụ trong chúng ta.
Khi được tràn đầy tình yêu cũng như được nuôi dưỡng bằng tình yêu này, bấy giờ Chúa Cha sẽ ban cho chúng ta những cơ hội trong suốt cả ngày sống để chúng ta chia sẻ tình yêu ấy cho người khác. Và điều này cũng có thể xảy ra một cách dễ dàng qua quyền năng của Chúa Thánh Thần nếu chúng ta có thể kiềm chế cái tôi của mình, những nỗi sợ hãi mất mát những thứ quý giá, ước muốn khẳng định chính mình tốt hơn và xứng đáng hơn người khác, những ký ức về những nỗi đau trong quá khứ, những tham vọng và khát khao của chúng ta – nói ngắn gọn là tất cả con người của chúng ta. Ở đây một lần nữa, đó không phải là điều chúng ta phải làm, nhưng là con đường mà trên đó chúng ta để cho Thần Khí của Thiên Chúa dẫn dắt chúng ta đi. Điểm mấu chốt dường như trở thành niềm tin, đó là: đây thực sự là con đường dẫn tới ‘sự sống đời đời’, sự sống của chính Thiên Chúa được ban cho chúng ta một cách dồi dào! Sự sống ấy thể hiện Thiên Chúa lẫn con người ở trong cùng một mức độ. Người thanh niên giàu có đã được Chúa Giê-su dạy là hãy đi, bán hết tài sản anh có, bố thí cho người nghèo rồi đến theo Chúa Giê-su! Qua việc giúp đỡ những người nghèo, người thanh niên ấy sẽ đem lại lợi ích cho những con người ở xung quanh anh, và qua việc đi theo Chúa Giê-su, anh sẽ tìm thấy sự sống đời đời mà anh hằng khao khát!
 
Ngày 30/1
“Các cộng đoàn tu trì phải là những phòng tiệc ly, rộng mở và đón tiếp tất cả các linh mục” [ ]
 
Lý tưởng sống của chúng ta sâu sa nhất chính là nơi Phòng Tiệc Ly nội tâm, đó chính là một lý tưởng mà cha Eymard không chỉ đề ra cách riêng cho các tu sĩ Thánh Thể mà còn cho các cộng đoàn Thánh Thể của chúng ta nữa. Lý tưởng này có thể bắt gặp trong hai số của Luật Sống chúng ta:
“Tư thế sẵn sàng, thái độ quan tâm chia sẻ và hiệp thông của chúng ta là dấu chứng nói lên rằng: Đấng Phục Sinh đang hiện diện. Hiến mình làm kẻ hầu hạ anh em, là chúng ta trở thành chứng nhân cho Đức Ki-tô. Chúa mời gọi chúng ta, ngày ngày sống mầu nhiệm Vượt Qua của Người như thế.” (LS #7)  và
“Để bày tỏ tình yêu Thiên Chúa cho nhân loại, cộng đoàn không hiện hữu vì chính mình, nhưng mong ước được là một nơi cho mọi người kiếm tìm Thiên Chúa. Cộng đoàn chia sẻ cuộc sống của mọi người, và tìm cách sống Tin Mừng trong mọi chiều kích… Chúng ta sẽ hoan hỉ đón tiếp quý khách tại những khu vực riêng.” (LS # 10).
Dường như điều mà cha thánh có trong đầu chính là việc chúng ta làm sáng tỏ ý nghĩa tình yêu và sự chấp nhận của Chúa Cha dành cho từng người. Đối với tất cả mọi người, tình yêu này của Chúa Cha sẽ là một điều gì đó rất cao sang và nhiệm mầu nếu như tình yêu ấy không được tỏ hiện cho chúng ta bằng cách hữu hình và có thể đụng chạm được. Để điều này có thể xảy ra, các cộng đoàn của chúng ta cần phải đẩy mạnh việc đón tiếp người khác và khi họ ở với chúng ta cũng như ở giữa chúng ta, điều quan trọng mà những khách viếng thăm có thể nói là: ‘Nhìn kìa! Các Ki-tô hữu này (ám chỉ các tu sĩ Thánh Thể) yêu mến nhau dường nào! Chúng ta không thể tỏ ra trước mặt những người ngoài bất kỳ dấu hiệu nào của sự xung khắc, sự lố bịch hay phê bình cách sống cũng như công việc của anh ta; đặc biệt là đối với những vị Bề Trên, những người thường là điểm nhắm của sự phê bình này trong bất kỳ cộng đoàn nào. Lý do mà chúng ta không tỏ ra cách hành xử này chính là nó không tồn tại trong chúng ta! Hơn nữa, đây là một thách đố khó khăn, nhưng rất hiện thực và thực tế- một sự tác động của tinh thần Thánh Thể giữa chúng ta.
Tuy nhiên, cha Eymard muốn rằng việc ưu tiên trước hết phải dành cho các linh mục. Ngài nhận ra rằng sự khác biệt trong cách tiếp đón nồng hậu và thân thiện của chúng ta có thể làm cho các linh mục, đặc biệt là các linh mục triều, những người thường phải chịu đau khổ vì sự cô đơn cũng như những khó khăn khác. Và trải qua nhiều năm, điều này đã thực sự trở thành món quà đặc biệt của Dòng Thánh Thể dành cho các giáo phận mà chúng ta cư trú: đón tiếp và chăm lo cho các linh mục tìm đến chúng ta! Tình thương mà chúng ta dành cho các linh mục quả thực sẽ đem lại một kết quả mỹ mãn khi họ trở lại và chia sẻ tình yêu mà họ đã nhận được cho các giáo dân của mình.
 
Ngày 31/1
“Phúc thay ai tin vào Tình yêu, tin vào Thánh Thể” [Phong Trào Chầu Thánh Thể 40 Giờ tại các đan viện Biển Đức, tháng 5 năm 1868]
Lời khẳng định này của cha Eymard có thể không làm cho nhiều người trong chúng ta ngày nay ấn tượng về tầm quan trọng của nó. Nhưng tất cả những gì chúng ta cần là nhớ lại bầu khí tâm linh nói chung vào thời đại của ngài. Tình yêu là điều sau cùng người ta nghĩ tới – việc đền tội, hoán cải, từ bỏ cái tôi và những thứ khác lại sớm nảy ra trong tâm trí khi suy nghĩ về những nỗ lực tinh thần của người ta. Đi ngược lại với nền tảng về hình ảnh của cái tôi tiêu cực nổi lên nơi những Ki-tô hữu, cách làm của cha Eymard giống như một tia sáng và niềm hy vọng.
Đặc biệt, khi người ta chia sẻ kinh nghiệm của thánh Phao-lô được nhắc đến trong chương 7 thư gửi tín hữu Rô-ma: “Thật vậy, tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu: vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm” (7,15-16)… “Thật vậy, muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, nhưng làm thì không” (7,18-22)… “Tôi thật là một người khốn nạn! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này? Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta!” (7,24-25)- người ta nhận ra rằng không còn cách nào khác hơn là khiêm tốn và ân cần đón nhận hiến tế của chính Thiên Chúa và sự tha thứ đầy yêu thương của Người. Đó là lúc người ta bắt đầu tin vào Thánh Thể như là lời giải đáp cho những vấn nạn của con người ngày nay!
Vả lại, chính năng lực của cuộc đấu tranh cá nhân chống lại sự dữ hoành hành nơi chúng ta và sự thất bại thường xuyên của chúng ta khi chúng ta cậy dựa vào những nỗ lực mong manh của mình sẽ củng cố niềm tin này của chúng ta. Tình yêu Thiên Chúa thật kỳ diệu biết bao – Ngài biết rằng chúng ta sẽ không bao giờ thành công bao lâu chúng ta cố tìm cách không lệ thuộc vào Ngài… Ngài biết chúng ta vấp ngã đi vấp ngã lại, thế nhưng Ngài sẽ không bao giờ ép buộc chúng ta chấp nhận tình yêu của Ngài. Vì, tình yêu chân thật thì không thể bị ép buộc, tình yêu cũng không có ý nghĩa gì và không có sức biến đổi khi nó bắt người khác phải theo. Tình yêu ấy phải được cho đi một cách tự nguyện và được đón nhận một cách tự nguyện. Chỉ bằng cách đó, nhân phẩm và danh dự của người nhận mới được duy trì và bảo toàn.
Cũng thế, Thiên Chúa ban tặng chúng ta tình yêu của Ngài và Ngài đợi chờ – khi ‘giờ’ của Ngài đến, chúng ta sẽ không còn do dự để đón nhận tình yêu của Ngài, ngay cả khi tình yêu ấy dẫn đến một sự đầu hàng hoàn toàn của chính chúng ta và thành công ảo tưởng trong việc chúng ta có thể làm chủ cuộc đời mình. Tình yêu ấy sẽ bừng cháy lên vào cái ngày mà chúng ta nhận ra một cách thâm sâu và riêng tư rằng “tôi được yêu- dù có thế nào đi chăng nữa!” Những kinh nghiệm tương tự như thế sẽ dần dần làm cho đức tin của chúng ta vào tình yêu Thiên Chúa không hề lay chuyển. Tuy nhiên, trong suốt tiến trình trưởng thành này, tốt hơn là nên có một nhóm hỗ trợ gồm những người đồng chí hướng đã có kinh nghiệm từng trải, có thể nói như thế, và đã giành được chiến thắng! Từ kinh nghiệm quá khứ của chính mình, họ biết điều gì nên làm cũng như có thể giúp cho tín hữu thiếu kinh nghiệm đến cùng.
Khi nhấn mạnh rằng đức tin phải được bén rễ nơi Thánh Thể, chắc chắn cha Eymard không nghĩ đến một thói quen hằng ngày, một lễ kỷ niệm tẻ nhạt- vốn là điều mà hầu hết mọi người ngày nay nghĩ đến. Người ta cần ý thức về ‘quà tặng bản thân’ mỗi lúc và sống ân huệ ấy mỗi ngày!

Bản dịch của Lm. Martinô Nguyễn Trung Hiếu, sss