Học viện thánh thể
 
Học viện thánh thể


LỊCH CG
Thống kê truy cập
Online: 48
Lượt truy cập: 1123811
Thông Điệp Laudato Si (Chăm sóc ngôi nhà chung) của Đức Giáo Hoàng Phanxicô (P1)
Thánh Phanxicô thành Assisi đã hát lên: “Con xin chúc tụng Chúa, lạy Chúa của con”. Trong bài thánh ca tươi đẹp này, Ngài nhắc cho chúng ta nhớ, ngôi nhà chung của chúng ta phải được xem như người chị của chúng ta, mà chúng ta được chia sẻ cuộc sống, và như người mẹ ôm lấy chúng ta......

THÔNG ĐIỆP
LAUDATO SI’
CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG PHANXICÔ VỀ
“CHĂM SÓC NGÔI NHÀ CHUNG”

Bản dịch của linh mục Aug. Nguyễn Văn Trinh

1. Thánh Phanxicô thành Assisi đã hát lên: “Con xin chúc tụng Chúa, lạy Chúa của con”. Trong bài thánh ca tươi đẹp này, Ngài nhắc cho chúng ta nhớ, ngôi nhà chung của chúng ta phải được xem như người chị của chúng ta, mà chúng ta được chia sẻ cuộc sống, và như người mẹ ôm lấy chúng ta. “Con xin chúc tụng Chúa, lạy Chúa của con! vì người chị của chúng con, người mẹ trái đất của chúng con, mẹ nâng đỡ chúng con và mang lại nhiều hoa trái, những bông hoa tươi đẹp, những cây cỏ xanh tươi”[1].

2. Người chị này đang kêu gào vì sự hủy hoại do chúng ta, vì việc sử dụng vô trách nhiệm và bóc lột các tài nguyên. Vì cứ đinh ninh rằng, chúng ta chính là chủ nhân và sỡ hữu chủ, nên được quyền tận dụng. Bạo lực nằm trong trái tim bị tội lỗi gây thương tích của con người, xuất hiện rõ ràng qua các hiện tượng bệnh lý, mà chúng ta có thể ghi nhận trong đất đai, trong không khí và nơi các sinh vật. Vì thế, giữa những người nghèo bị bỏ rơi và bị đối xử tàn tệ nhất, chúng ta sẽ thấy trái đất của chúng ta bị bóc lột và bị tàn phá, “đang rên siết và quằn quại trong cơn sinh nở” (Rm 8, 22). Chúng ta quên rằng, chính chúng ta cũng là tro bụi (St 2,7). Thân xác của chúng ta cũng được tạo nên từ những yếu tố của vũ trụ; không khí của nó giúp chúng ta thở và nước của nó giúp chúng ta sống và được bồi dưỡng.

Chúng ta không thể dửng dưng trước bất cứ điều gì của trái đất

3. Khoảng độ năm mươi năm trước đây, lúc thế giới bị rơi vào cơn khủng hoảng của chiến tranh hạt nhân, vị thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII đã viết một Thông Điệp, trong đó không những Ngài muốn ngăn chận chiến tranh, nhưng còn truyền đạt một đề nghị hòa bình. Ngài viết sứ điệp Pacem in terris – Hòa bình trên thế giới không những cho toàn thể Kitô hữu và còn thêm: “gởi cho tất cả những người thiện chí”. Hiện tại, khi phải đối mặt với những tác hại về môi trường trên khắp thế giới, Tôi muốn nói với tất cả mọi người đang sống trên hành tinh này. Trong Tông Huấn Evangelii gaudium – Niềm vui Tin Mừng, Tôi viết cho mọi thành phần trong Giáo Hội, để dấn thân vào một cuộc canh tân truyền giáo đang tiến triển. Trong Thông điệp này, Tôi đặc biệt kêu mời tất cả mọi người chú tâm vào ngôi nhà chung của chúng ta.

4. Tám năm sau thông điệp Pacem in terris – Hòa bình trên thế giới, vị chân phước Giáo Hoàng Phaolô VI vào năm 1971 đã nói về đề tài sinh thái, khi trình bày cơn khủng hoảng như là “hậu quả bi thảm” của hoạt động không kiểm soát của con người. “Qua việc khai thác vô tội vạ thiên nhiên, con người phải đối mặt với một nguy hiểm là sẽ tàn phá thiên nhiên và trở thành tế vật cho việc tàn phá của mình”[2]. Cũng như trước diễn đàn Tổ chức lương nông quốc tế (FAO), Ngài đã nói về mối “tai họa sinh thái như hậu quả của xã hội công nghiệp” và Ngài nhấn mạnh về “một sự khẩn cấp thật cần thiết cho sự chuyển đổi triệt để trong thái độ của nhân loại”, chỉ vì, “những tiến triển siêu đẳng về mặt khoa học, những kỹ thuật đầy kinh ngạc, sự phát triển diệu kỳ của nền kinh tế, nếu như chúng không đi kèm theo sự phát triển xã hội và luân lý đích thực, sẽ chống lại loài người”[3].

5. Thánh Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II cũng đưa ra đề tài này, nhưng với một chú tâm đáng kinh ngạc. Trong Thông điệp đầu tiên, Ngài cảnh báo: “Con người đã không nhìn vũ trụ với một ý nghĩa nào khác, ngoài mục đích sử dụng trực tiếp và lạm dụng”[4]. Tiếp đến, Ngài kêu gọi toàn thế giới phải có một sự chuyển đổi về mặt sinh thái[5]. Đồng thời, Ngài cho thấy người ta dấn thân quá ít để “gìn giữ những điều kiện luân lý cho một sinh thái thật nhân bản (Humanõkilogie – écologie humaine)”[6]. Sự tàn phá môi trường sinh thái của con người đã rất trầm trọng, vì Thiên Chúa không những trao cho con người trái đất này, nhưng chính sự sống cũng là một quà tặng của Thiên Chúa, con người cần phải bảo vệ nó trước mọi tình trạng sa sút. Mọi cố gắng bảo vệ và kiện toàn trái đất nằm trong điều kiện phải có những thay đổi sâu xa trong “cách sống, các mẫu sản xuất, tiêu thụ và cơ cấu quyền lực, là những thứ đang thống trị xã hội”[7]. Việc phát triển mang tính nhân bản thực sự phải có một đặc tính luân lý và phải đưa đến một sự tôn trọng trọn vẹn đối với con người, nhưng còn phải chú tâm đến thế giới vạn vật, đến “bản chất của từng sinh vật và liên hệ trao đổi của nó trong hệ thống xác định”[8]. Vì thế khả năng con người để chuyển đổi thực tại, phải được triển khai dựa trên nền tảng của quà tặng vạn vật như Thiên Chúa đã dựng nên chúng từ thuở ban đầu[9].

6. Vị tiền nhiệm của Tôi là Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI lập lại lời đòi buộc “phải loại bỏ những nguyên nhân cơ cấu của các phận vụ lệch lạc về kinh tế thế giới và sửa lại các mẫu phát triển, xem ra không còn khả năng tôn trọng môi trường”[10]. Ngài nhắc lại rằng, con người không thể phân tích vũ trụ khi tách từng phương diện một, vì “quyển sách vạn vật chỉ có một và không thể chia cắt được”, nối kết môi trường, sự sống, tính dục, gia đình và các liên hệ xã hội lại làm một. Vì thế, “việc hủy hoại vạn vật liên kết với văn hóa, là thứ tạo nên cuộc sống chung của nhân loại”[11]. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI giúp chúng ta nhận thức, môi trường tự nhiên mang đầy vết thương do thái độ vô trách nhiệm của chúng ta gây nên. Ngay cả môi trường xã hội cũng mang đầy thương tật. Chỉ vì tất cả cùng rơi vào một điều xấu, đó là ý tưởng cho rằng không có những chân lý cố định không thể tranh luận, những chân lý hướng dẫn cuộc sống của chúng ta, và vì thế sự tự do của con người không bị đặt trong một giới hạn nào cả. Người ta quên rằng, “con người không tự tạo tự do cho riêng mình. Con người không thể tự tạo ra mình. Con người là tinh thần và ý chí, nhưng cũng là vật chất”[12]. Với sự âu lo của một người cha, Đức Giáo Hoàng kêu gọi chúng ta nhận thức, “sáng tạo đang bị hư hoại, đây là nơi chúng ta hiện diện, nơi toàn thể không thuộc về chúng ta mà chúng ta lại hưởng thụ cho riêng mình. Việc lạm dụng các tài nguyên của sáng tạo đã khởi sự ngay từ đó, chúng ta không còn nhận ra một khoảng khắc nào trên chúng ta, nhưng chỉ còn nhìn thấy mỗi chúng ta”[13].

Hiệp nhất trong cùng một âu lo

7. Những tham luận của các vị Giáo Hoàng này đã gợi lên suy tư của không biết bao nhiêu nhà khoa học, triết gia, thần học và các tổ chức xã hội; các vị này đã đưa ra nhiều ý tưởng phong phú cho vấn đề này. Chúng ta không được bỏ qua, ngoài Giáo Hội Công Giáo, còn có nhiều Giáo Hội và cộng đoàn kitô hữu khác – cũng như các tôn giáo khác – cùng triển khai những lo âu lớn lao và nhiều suy tư có giá trị cho đề tài gây bất an cho chúng ta. Chỉ cần nêu lên một tỉ dụ đáng chú ý, Tôi chỉ gợi lên một phần ngắn bài tham luận của vị Thượng Phụ đáng kính Bartholomêô, người mà chúng ta hy vọng được chia sẻ vào sự Hiệp nhất trọn vẹn trong Giáo Hội.

8. Thượng Phụ giáo chủ Bartholomêô đặt biệt nói về sự cần thiết phải sám hối, vì mỗi người theo cách của mình đã hủy hoại hành tinh, “trong mức độ chúng ta đã gây nên những thiệt hại nhỏ bé cho sinh thái”; chúng ta cũng phải nhận ra“những cộng tác dù nhỏ bé hay lớn lao tạo nên sự hủy hoại hay tàn phá sáng tạo”[14]. Về điểm này, ngài đã lập đi lập lại với những lời mạnh mẽ và kích động, đòi buộc chúng ta phải nhận ra lỗi lầm đã chống lại sáng tạo: “Con người đã tàn phá sáng tạo của Thiên Chúa với nhiều phương cách sinh học; con người đã phá hoại sự toàn vẹn của trái đất, gây nên sự biến đổi khí hậu, bóc lột trái đất từ những cánh rừng tự nhiên hay tàn phá những vùng ẩm ướt; con người đem đến những tai họa cho kẻ khác, gây bệnh hoạn vì làm nhơ bẩn nguồn nước, đất đai và không khí bằng những chất độc hại – đó là tội lỗi”[15]. Vì “một tội lỗi chống lại tự nhiên, cũng là tội lỗi chống lại chính chúng ta và là một tội lỗi chống lại Thiên Chúa”[16].

9. Đồng thời, Đức Thượng Phụ Bartholomêô gây chú ý đến nguồn gốc đạo đức và tinh thần về vấn đề môi trường, đòi buộc chúng ta tìm cách giải quyết, không những về mặt kỹ thuật, nhưng còn ngay trong việc thay đổi con người, vì thật ra, chúng ta chỉ đối mặt với các hiện tượng. Ngài đề nghị với chúng ta từ việc tiêu thụ sang hy sinh, từ sự tham lam sang quảng đại, từ phung phí sang khả năng chia sẻ, bước vào sự khổ hạnh, điều đó có nghĩa là, học hỏi để ban phát, chứ không phải chỉ biết từ chối. Đó là một cách yêu thương, từng bước từ vượt qua điều chúng ta ham muốn đến việc trao ban điều mà vũ trụ của Thiên Chúa cần thiết. Đó là việc giải thoát khỏi lo âu, ham hố và ràng buộc”[17]. Ngoài ra chúng ta là Kitô hữu, còn được mời gọi, đón nhận “vũ trụ như một bí tích của cộng đoàn, như một phương tiện chia sẻ với Thiên Chúa và tha nhân trong chiều kích vũ trụ. Đó là một xác quyết khiêm tốn, gặp gỡ với điều của Thiên Chúa và nhân loại trong những thành phần nhỏ nhất của trang phục không viền mối sáng tạo của Thiên Chúa, ngay cả trong hạt bụi nhỏ bé nhất của hành tinh chúng ta”[18].

Thánh Phanxicô thành Assisi

10. Tôi không muốn tiếp tục Thông điệp này mà không gợi lên một ảnh hình tốt đẹp có thể động viên chúng ta. Tôi coi danh hiệu này như một hình ảnh hướng dẫn và như một thứ gợi hứng cho Tôi ngay lúc được chọn làm Giám Mục thành Rôma. Tôi tin rằng, thánh Phanxicô là mẫu gương tuyệt vời cho việc tôn trọng những gì yếu đuối và cho một sinh thái được sống cách trọn vẹn đầy niềm vui đích thực. Ngài chính là vị Thánh cho tất cả những ai tìm hiểu và làm việc trong lãnh vực sinh thái; Ngài được nhiều người không phải là Kitô hữu yêu mến. Ngài cho thấy một sự chú tâm đối với sáng tạo của Thiên Chúa và đối những kẻ nghèo hèn và cô đơn nhất. Ngài yêu thích niềm vui với một tâm hồn thanh thản, Ngài đã sống sự tận hiến quảng đại với tâm hồn rộng mở. Ngài là một vị huyền nhiệm và là một lữ khách sống trong sự đơn sơ và hòa hợp với Thiên Chúa, với kẻ khác, với vạn vật và với chính bản thân. Trong Ngài, chúng ta thấy rõ mức độ Ngài liên kết tất cả việc chăm sóc thiên nhiên, sự công bằng với kẻ nghèo, việc dấn thân cho xã hội và bình an nội tâm vào một điểm gắn kết chung với nhau, không thể phân ly.

11. Chứng cứ của Ngài cho chúng ta thấy, một sinh thái trọn vẹn đòi hỏi phải có một sự rộng mở đến các yếu tố vượt trên ngôn ngữ toán học hay sinh học, và hướng chúng ta đến bản chất nhân bản. Tất cả những gì xảy ra khi chúng ta yêu thương một người, mỗi lần như thế, người đó sẽ chiêm ngắm mặt trời, mặt trăng hay là một sinh vật bé nhỏ nhất, phản ứng của anh là ca hát lên và lôi kéo tất cả tạo vật vào bài ca của mình. Anh ta bước vào sự hiệp thông trọn vẹn với cả sáng tạo và sẽ giảng thuyết cho cả loài hoa “và mời gọi chúng cùng ca tụng Chúa, nếu như chúng là một loài có lý trí”[19]. Phản ứng của anh sẽ vươn xa hơn mọi thứ đánh giá dựa theo tri thức hay kinh tế, vì đối với anh mỗi tạo vật là một anh em, một chị em, nối kết với anh bằng liên hệ tình yêu thật êm dịu. Đệ tử của Ngài là thánh Bonaventura, thuật lại như sau: “Khi nghiệm thấy rằng tất cả thụ tạo đều có chung một nguồn gốc cuối cùng nơi Thiên Chúa, Ngài cảm thấy tràn đầy sự âu yếm với tất cả. Vì thế, Ngài đã gọi các tạo vật bé nhỏ nhất là anh em, là chị em”[20]. Đừng hạ thấp xác tín này thành một thứ lãng mạn siêu thực, vì chúng đưa đến những hệ luận các định kiến xác định thái độ của chúng ta. Nếu chúng ta đến gần thiên nhiên và môi trường chung quanh, mà không có chút rộng mở để kinh ngạc và trầm trồ, nếu chúng ta không nói với thế giới chung quanh bằng ngôn ngữ huynh đệ và đẹp đẻ, thì thái độ của chúng ta sẽ trở thành thái độ của sở hữu chủ, của người tiêu thụ hay chỉ là của những người bốc lột tài nguyên, không có khả năng thiết đặt ranh giới cho chú tâm trực tiếp của mình. Nhưng nếu chúng ta cảm nghiệm được liên kết với tất cả những gì đang hiện hữu, thì sự điều độ và chăm sóc sẽ tự đến. Sự nghèo khó và đơn sơ của thánh Phanxicô không phải là sự khổ hạnh ở bên ngoài, nhưng là một điều gì triệt để: một sự từ chối biến thực tại trở thành đối tượng sử dụng và thống trị.

12. Mặt khác, thánh Phanxicô rất trung thành với Thánh Kinh, đề nghị chúng ta nhận ra thiên nhiên là quyển sách sáng ngời, trong đó, Thiên Chúa nói với chúng ta và cho chúng ta thấy một ánh quang đẹp đẻ và nhân từ của Người: “Vì các thọ tạo càng lớn lao đẹp đẽ thì càng giúp nhận ra Đấng tạo thành” (Kn 13,5) và “quả vậy, những gì người ta không thể nhìn thấy được nơi Thiên Chúa, tức là quyền năng vĩnh cửu và thần tính của Người, thì từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, trí khôn con người có thể nhìn thấy được qua công trình của Người” (Rm 1, 20). Vì thế, thánh Phanxicô muốn đan viện phải để ra một mãnh đất không canh tác, để cho cỏ dại có thể mọc lên, để những ai chiêm ngắm chúng có thể nâng tâm hồn lên với Chúa, Đấng là tác giả các vẻ đẹp này[21]. Vũ trụ còn hơn là một vần đề phải giải quyết, chúng là một mầu nhiệm thật thân thương, để chúng ta chiêm ngắm trong niềm vui và ca tụng.

Lời kêu gọi của Tôi

13. Việc đòi hỏi khẩn thiết để bảo vệ cho ngôi nhà chung của chúng ta, cũng đưa đến việc cả gia đình nhân loại phải kết hợp với nhau, tìm cách phát triển lâu dài và trọn vẹn, vì chúng ta biết, mọi vật đều có thể thay đổi. Đấng Sáng Tạo không bỏ rơi chúng ta, không bao giờ Người rút lại chương trình tình yêu của Người, Người cũng không hối hận khi sáng tạo nên chúng ta. Nhân loại có khả năng cộng tác với nhau để xây dựng ngôi nhà chung của chúng ta. Tôi muốn chào đón, động viên và cảm ơn tất cả mọi người hoạt động trong nhiều lãnh vực khác nhau, bảo vệ ngôi nhà chung mà chúng ta cùng chia sẻ. Tôi đặc biệt cám ơn những người can đảm giải quyết các hậu quả bi đát về vấn đề tàn phá môi trường ảnh hưởng trên đời sống những người nghèo nhất trên thế giới. Giới trẻ đòi buộc chúng ta phải thay đổi. Họ tự hỏi, có khả năng nào xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn, mà không nghĩ đến cơn khủng hoảng môi trường và đau khổ của những người bị loại ra bên ngoài xã hội.

14. Tôi khẩn khoảng kêu gọi một cuộc đối thoại mới về cách thức chúng ta xây dựng một tương lai mới cho hành tinh của chúng ta. Chúng ta cần một cuộc trao đổi kết hợp chúng ta lại với nhau, vì sự thách đố của hoàn cảnh môi trường mà chúng ta đang sống, chú tâm và tiếp cận các căn cơ thuộc con người của môi trường này. Phong trào sinh thái trên toàn thế giới đã có một quá trình lâu dài với nhiều thành công, đưa đến các liên hệ xã hội gây nhiều ý thức. Tiếc thay, nhiều cố gắng để tìm cách giải đáp cụ thể cho khủng hoảng môi trường, thường thất bại, không phải chỉ vì chống đối với những người có quyền lực, nhưng còn vì vô cảm với những kẻ khác. Những thái độ – ngay cả giữa các tín hữu – sơ cứng trên những con đường giải quyết, đưa đến việc phủ nhận các vấn đề với thái độ dửng dưng, chống đối cách hời hợt hay tin tưởng cách mù quáng vào các giải quyết dựa trên kỹ thuật. Chúng ta cần một sự liên đới toàn cầu cách mới mẽ. Như các vị Giám Mục Phi Châu nói “cần đến các tài năng và dấn thân của tất cả mọi người, để làm tốt lại những gì con người lạm dụng, gây tổn thất cho sáng tạo của Thiên Chúa”[22]. Tất cả chúng ta, có thể cộng tác như những khí cụ của Thiên Chúa để cứu giúp sáng tạo, mỗi người theo văn hóa, kinh nghiệm, dấn thân và khả năng của mình.

15. Tôi hy vọng Thông Điệp này được nối kết vào Giáo Huấn xã hội của Giáo Hội, giúp chúng ta nhận ra sự lớn lao, khẩn thiết và tốt đẹp của việc đòi buộc đang đối mặt chúng ta. Trước tiên, Tôi muốn rảo qua những phương diện xác định về cuộc khủng hoảng môi sinh hiện tại, với mục đích nhìn các thành quả tốt đẹp của việc tìm tòi khoa học, để nhìn sâu và nêu lên một nền tảng cụ thể đường hướng đạo đức và tinh thần. Từ nhản giới này, Tôi sẽ nêu lên những lý lẽ chắn chắn, dựa theo truyền thống Do thái-Kitô giáo, với ước muốn có một sự liên kết trong việc dấn thân cho môi sinh của chúng ta. Tiếp đến, Tôi cố gắng đi đến các nguyên nhân hoàn cảnh hiện tại của chúng ta, không phải chỉ nhìn như hiện tượng, nhưng là những nguyên nhân sâu xa. Với cách thức này, chúng ta có thể đề nghị một khoa sinh thái, trong tất cả chiều kích khác nhau của nó, có một vị trí đặc biệt cho con người trong vũ trụ và những liên hệ của nó với thực tại bao quanh con người. Dựa theo ánh sáng của lập luận này, Tôi muốn tiếp bước những nét chính yếu của cuộc đối thoại và hoạt động, gắn kết với mỗi người chúng ta cũng như với nền chính trị quốc tế. Và Tôi tin rằng, mỗi sự thay đổi cần thiết cho sự chuyển đổi và con đường giáo dục; cuối cùng, Tôi đề nghị vài nét cho việc trưởng thành nhân bản, được cảm nghiệm từ kho tàng kinh nghiệm tinh thần Kitô giáo.

16. Dù mỗi chương đều có đề tài riêng và phương pháp đặc thù, nhưng cũng đưa ra một cái nhìn mới cho các vấn đề của mình, mà những chương trước cũng đã được đề cập đến. Điều này đụng đến vài đề tài căn bản, được triển khai xuyên suốt cả Thông điệp. Tỉ như: liên hệ mật thiết giữa những người nghèo và sự mỏng manh của hành tinh, xác tín rằng: trong thế giới này tất cả đều liên kết với nhau; sự phê bình các dự phóng mới và các hình thức của quyền lực do kỹ thuật đem đến; mời gọi tìm cách hiểu biết về kinh tế và phát triển; giá trị riêng biệt của từng tạo vật; ý nghĩa nhân sinh của sinh thái; sự cần thiết cho những đề nghị đúng đắn và đích thực, trách nhiệm nặng nề của chính trị toàn cầu và địa phương; loại bỏ văn hóa và đề nghị một lối sống mới. Những đề tài này chưa kết thúc và cũng không thể bỏ qua được, nhưng phải luôn lấy lại một cách mới mẽ và phong phú.

Chương I: TẤT CẢ NHỮNG GÌ ĐANG DIỄN RA TRONG NGÔI NHÀ CỦA CHÚNG TA

17. Những suy tư thần học hay triết học về tình trạng con người và vũ trụ xem ra chỉ có thể là những sứ điệp lập lại và trừu tượng, nếu như chúng không đối mặt một cách mới mẽ với liên hệ hiện hành, khi nhìn vào những gì chưa hiện diện nhưng cần thiết cho lịch sử nhân loại. Vì thế, trước khi nhìn xem niềm tin mang đến cho chúng ta những động lực và những đòi hỏi mới mẽ khi đối diện với thế giới mà chúng ta đang sống, Tôi xin đề nghị dừng lại một chút để nhận ra những gì đang diễn ra trong ngôi nhà chung của chúng ta.

18. Việc gia tăng liên tục làm thay đổi nhân loại và hành tinh, ngày nay liên kết với sự căng thẳng chu kỳ sống và làm việc, trở thành một hiện tượng được gọi là “rapidación”. Khi việc thay đổi này là một phần động năng của hệ thống phức tạp, thì vận tốc đòi buộc hoạt động của con người cũng gia tăng, sẽ đi ngược với sự chậm chạp tự nhiên của sự phát triển sinh học. Thêm nữa, vấn đề, mục đích sự thay đổi thật nhanh và kiên vững không bắt buộc phải nhắm vào lợi ích chung và vào sự phát triển lâu dài và trọn vẹn toàn thể nhân loại. Sự thay đổi có thể là một điều đáng ước muốn, nhưng lại gây bất ổn, nếu như nó tạo sự suy thoái cho vũ trụ và phẩm chất sống của một phần lớn nhân loại.

19. Sau một thời gian tin tưởng thật phi lý vào sự phát triển và khả năng của con người, hiện tại một phần xã hội đã bước vào giai đoạn ý thức mạnh mẽ. Đó là một cảm nghiệm tăng dần đối với môi trường và việc chăm sóc thiên nhiên, một sự chăm sóc đích thực và khổ đau về những gì đang diễn ra cho hành tinh của chúng ta. Chúng ta nên có một cái nhìn – cho dù không đầy đủ – về những vấn nạn hiện tại làm cho chúng ta bất an và chúng ta không thể dửng dưng bỏ qua. Mục đích không phải để tổng hợp các hướng dẫn hay thỏa mãn sự hiếu kỳ của chúng ta, nhưng đón nhận một ý thức đau khổ, để dám xem những gì đang diễn ra trong thế giới thành nỗi lo âu của cá nhân và nhận thức sự đóng góp của chúng ta có thể mang đến.

I. SỰ Ô NHIỄM VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Sự ô nhiễm, rác rưởi và văn hóa loại trừ

20. Có nhiều hình thức ô nhiễm gây tai hại từng ngày cho con người. Những chất gây nguy hại được tung vào không khí, minh chứng một loạt tác hại trên sức khỏe – đặc biệt cho những người nghèo nhất – đưa đến hàng triệu trường hợp chết chóc rất sớm. Những con người này bị bệnh, tỉ như vì phải thở bụi khói ở mức độ cao của những chất liệu bị đốt cháy, được sử dụng để nấu nướng hay sưởi ấm. Thêm nữa, sự ô nhiễm gây tai hại cho tất cả do các phương tiện giao thông hay do khí thải công nghiệp, do chôn cất những chất liệu gây axít hóa đất đai cũng như nguồn nước, do phân bón, tiêu diệt côn trùng, diệt nấm, diệt cỏ và nói chung là các hóa chất nông nghiệp độc hại. Một thứ kỹ thuật gắn liền với tài chính, cho rằng đây là cách giải quyết duy nhất, trong thực tế, không có khả năng nhìn thấy điều thâm sâu của các liên hệ đa dạng, giữa mọi thứ, và vì thế đôi khi một vấn đề lại tạo nên vấn đề khác.

21. Chúng ta phải nhìn vào sự ô nhiễm do rác thải gây nên, gồm cả các chất cặn bả nguy hiểm có mặt trong nhiều vùng khác nhau. Mỗi năm có hằng trăm triệu tấn rác thải được tung ra, mà phần đông không phải do rác sinh học: rác thải trong gia đình và chợ búa, rác thải do xây dựng, do bệnh viện, điện khí, kỷ nghệ, nhất là những rác thải độc hại và phóng xạ. Ngôi nhà trái đất của chúng ta, càng ngày càng trở nên một bãi rác khổng lồ. Trong nhiều vùng trên trái đất, những người già thường nhớ đến những cách đồng như thuở xưa, nay thì tràn đầy rác rưởi. Cũng như rác thải công nghiệp do những sản phẩm hóa chất được sử dụng trong làng mạc hay nơi đồng áng có thể gây nên hậu quả gia tăng chất hóa học trong cơ thể của người dân chung quanh, cũng như đưa đến những yếu tố độc hại cho một nơi thấp hơn. Thường người ta cũng phải đo lường mức độ hậu quả trên sức khỏe con người không còn có thể đảo ngược lại được.

22. Những vấn đề này kết chặt với thứ văn hóa đào thải (Wegwerfkultur – la culture du déchet) ảnh hưởng đến những con người bị loại thành rác rưởi. Tỉ như chúng ta ý thức một phần lớn giấy tờ được sản xuất, bị phung phí và không còn giá trị gì nữa. Thật cũng khó cho chúng ta khi phải suy nghĩ các phận vụ của hệ thống sinh thái như mô mẫu: cây cỏ tổng hợp những chất lương thực cho loài ăn cỏ; loài này đến phiên mình cũng làm như thế cho loài ăn thịt, loài này sản xuất ra một số cặn bả hữu cơ, giúp cho cây cỏ lớn lên. Ngược lại hệ thống công nghiệp vào cuối chu kỳ sản xuất và tiêu thụ không có khả năng hòa nhập và tạo lại giá trị cho cặn bả và rác thải. Người ta cũng không thể bảo đảm trong chu kỳ sản xuất đảm bảo được tài nguyên cho mọi người và cho những thế hệ tương lai và giả thiết phải ngăn chận tối đa việc sử dụng tài nguyên, gia tăng tính hữu dụng các khám phá, tái sử dụng và quay vòng chu kỳ. Đối mặt với vấn nạn này sẽ là con đường đối mặt với thứ văn hóa đào thải, cuối cùng gây tai họa cho cả hành tinh chung. Chúng ta xác định, phát triển theo nghĩa này sẽ rất thấp.

Khí hậu là tài sản chung

23. Khí hậu là tài sản chung của mọi người và cho mọi người. Trên bình diện toàn cầu, đó là một hệ thống phức tạp, liên hệ thật cơ bản đến cuộc sống con người. Có một sự nhất trí cao dựa theo khoa học, để xác nhận rằng hệ thống khí hậu của chúng ta đang bị đun nóng gây nhiều lo lắng. Trong những thập niên cuối cùng, việc đun nóng này làm mặt nước biển liên tục dâng cao cũng liên kết việc gia tăng sự biến động khí hậu cực đoan, ngoài ra, người ta không thể gán nguyên nhân khoa học cho từng hiện tượng xác định. Nhân loại được kêu gọi phải ý thức, cần thực hiện sự thay đổi lối sống, sản xuất và tiêu thụ, để chống lại việc đun nóng hay những nguyên nhân do con người đã gây nên hay làm gia tăng. Thật vậy, còn nhiều động lực khác (như núi lửa, sự thay đổi qui trình chuyển động của trái đất và trục trái đất, chu kỳ mặt trời), nhiều tham luận khoa học cho thấy, phần lớn việc đun nóng toàn cầu trong thập niên cuối, đều dẫn đến sự tập trung các khí thải (thán khí, Mê-tan, ôxít nitrogen và nhiều loại khí khác) do hoạt động của con người thải ra. Nếu chúng cứ tập trung vào bầu khí quyển, sẽ ngăn chận sức nóng của các tia mặt trời phản chiếu trên mặt đất, không đi vào không gian được. Điều này còn do việc gia tăng cách thức phát triển dựa trên việc sử dụng tối đa các tài nguyên trong lòng đất, để gia tăng hệ thống năng lượng toàn cầu. Việc sử dụng đất đai, nhất là nạn phá rừng vì mục đích nông nghiệp, cũng tạo nên sự thay đổi này.

24. Đến lượt mình, việc đun nóng ảnh hưởng đến chu kỳ của thán khí. Do đó tạo nên một vòng ma quái, tiếp tục làm cho hoàn cảnh trầm trọng thêm, gây ảnh hưởng trên việc sử dụng tài nguyên tất yếu như nước uống, năng lượng và sản phẩm nông nghiệp trong những vùng thật nóng và làm mất đi một phần lớn sự đa dạng sinh học của hành tinh. Qua việc tan chảy các tảng băng ở các cực và ở những vùng núi cao gây việc thải khí mêtan ở mức độ cao, và tan rã các chất liệu cơ học đông lạnh có thể nâng cao việc dâng trào thán khí điôxít. Việc biến mất các rừng nguyên sinh nhiệt đới đến phiên mình cũng làm xấu đi tình trạng này, vì chúng giúp điều độ việc biến đổi khí hậu. Việc ô nhiễm do thán khí điôxít sẽ làm thêm độ axít hóa các đại dương, gây nguy hại cho chuỗi lương thực trên biển. Nếu xu hướng hiện tại vẫn tiếp tục, thế kỷ này sẽ chứng kiến không những sự biến đổi khí hậu và sự tàn phá vô tiền khoáng hâu hệ thống môi sinh, đưa đến nhiều hậu quả năng nề cho chúng ta. Tỉ như việc mặt nước biển dâng cao, có thể tạo những hoàn cảnh nặng nề nhất, nếu người ta suy nghĩ đến một phần tư dân chúng sống trực tiếp hay gần biển và một số đông các thành phố lớn ven biển.

25. Việc thay đổi khí hậu là vấn đề toàn cầu với phương diện môi trường trầm trọng về những chiều kích xã hội, kinh tế, phân phối và chính trị; nó đưa ra một thách đố quan trọng nhất trong hiện tại cho nhân loại. Những hậu quả xấu nhất có thể xảy ra trong những thập niên tới nơi những nước phát triển. Nhiều người nghèo sống trong những vùng mà những hiện tượng này xảy đến, liên kết với việc biến đổi khí hậu và các phương tiện để bảo đảm cuộc sống của họ gắn chặt vào những tài nguyên tự nhiên và những chuyển biến sinh thái như nông nghiệp, ngư nghiệp và nguồn lợi từ rừng. Họ không có những hoạt động tài chính và những tài nguyên khác, giúp họ vượt qua ảnh hưởng của khí hậu hay tai họa, họ cũng khó tiếp cận đến chương trình xã hội và bảo vệ. Những thay đổi khí hậu cũng tạo nên, tỉ như, việc di tản thú vật và cây cối, không còn khả năng thích ứng và như thế cũng gây tác hại cho nguồn sản xuất của người nghèo nhất, là những người cũng cần đến di tản, thật bất định khi nhìn đến tương lai và con cái của họ. Việc gia tăng người di tản thật thương đau, họ phải trốn chạy trước khốn khổ, do việc tàn phá môi trường càng ngày càng tệ hại hơn, và những người chạy trốn này không được công nhận là người di tản, họ phải gánh cuộc sống trong sự bị bỏ rơi không có chút che chỡ nào theo pháp lý. Buồn thay, có một sự dửng dưng trước sự bi đát này đang diễn ra trên những phần xác định của thế giới. Sự thiếu sót về mặt phản ứng trước bi kịch này của anh em, chị em của chúng ta là một dấu chỉ đánh mất cảm nghiệm về trách nhiệm với tha nhân, mà xã hội phải được xây dựng dựa vào đó.

26. Rất đông người nắm nhiều tài nguyên, quyền lực tài chính và chính trị, xem ra chỉ muốn tập trung vào việc che đậy vấn đề hay giấu nhẹm các hiện tượng, họ cố tìm cách đúc kết vào vài hậu quả tiêu cực của việc biến đổi khí hậu. Nhiều hiện tượng cho thấy, các hậu quả càng ngày càng xấu hơn, nếu chúng ta cứ chạy theo cách sản xuất và thói quen tiêu thụ. Vì thế điều khẩn cấp là phải triển khai chương trình chính trị, để trong các năm tới giảm bớt việc thải chất thán khí điôxít và những khí thải độc hại, tỉ như thay thế việc đốt các chất liệu năng lượng và phát triển nguồn năng lực có thể tái chế. Trong thế giới, năng lượng sạch và có thể tái chế còn rất ít. Cần phải phát triển kỹ thuật tương xứng để cung cấp. Dù vậy, một số nước đã bắt đầu có những tiến bộ, nhưng vẫn còn xa khi muốn đạt tới trình độ đầy đủ. Cũng có vài đầu tư trong cách sản xuất và chuyên chở, sử dụng ít năng lương và chất liệu thô, như trong việc xây dựng hay tu bổ nhà cửa để tạo hiệu quả cho việc sử dụng năng lượng. Nhưng những thực hành tốt đẹp này vẫn chưa được phổ biến.

II. VẤN ĐỀ “NƯỚC”

27. Những dấu chứng khác cho hoàn cảnh hiện tại nằm trong liên hệ với việc phung phí tài nguyên tự nhiên. Chúng ta biết rõ rằng, không thể nào giữ được mức độ hiện hành của việc tiêu thụ nơi các nước đã phát triển và các tầng lớp giàu trong xã hội, nơi thói quen xài phí và thải đi, đạt tới mức chưa từng có. Sự bóc lột hành tinh đã vượt quá mức, đến độ chúng ta không thể giải quyết được vấn đề nghèo đói.

28. Nước sạch là một vấn đề mang ý nghĩa hàng đầu, vì đó là điều tất yếu cho đời sống con người và gìn giữ hệ sinh thái của trái đất và nước. Những nguồn nước ngọt cần cho lãnh vực sức khỏe, đất đai nông nghiệp và kỹ nghệ, Trong một thời gian dài, việc dự trữ nước tương đối ổn định, hiện tại rất nhiều nơi phải đặt vấn đề vì vượt quá sự dự trữ, đưa đến những hậu quả nặng nề trong thời gian ngắn cũng như dài hạn. Nhiều thành phố lớn, cần đến những khối nước lớn để sử dụng, cũng phải đau khổ vì sự cạn kiệt nguồn nước, không đủ xài trong thời gian khủng hoảng. Việc thiếu nước diễn ra đặc biệt tại Phi Châu, nơi phần đông dân số không thể tiếp cận với nước uống hay phải chịu đựng những thời gian hạn hán, gây khó khăn cho việc sản xuất lương thực. Trong nhiều quốc gia, có nước dư thừa nhưng đồng thời lại có những quốc gia thiếu nước trầm trọng.

29. Một vấn đề đặc biệt trầm trọng, đó là hằng ngày có quá nhiều người chết, chính là do phẩm chất nước mà dân nghèo sử dụng. Các bệnh tật từ nước là do các vi khuẩn và những chất hóa học gây nên. Tiêu chảy và bệnh dịch tả liên kết với công tác vệ sinh không đầy đủ và tiêu thụ nước không được sạch, đó là động cơ rõ ràng đưa đến đau khổ của các em bé, phải bị chết sớm. Các mạch nước ngầm ở nhiều nơi bị ô nhiễm do các hoạt động tạo cặn bả do nông nghiệp và công nghiệp, nhất là trong những vùng đất không có luật lệ và kiểm soát đủ. Chúng ta không chỉ nghĩ đến rác thải của các xí nghiệp. Các thứ thuốc giặt và sản phẩm hóa chất mà dân chúng sử dụng nhiều nơi trên thế giới, trút đổ vào các dòng sông, ao hồ và biển cả.

30. Trong khi phẩm chất nước được sử dụng ngày càng thêm dơ bẩn, nhiều nơi có xu hướng tư hữu hóa nguồn nước có hạn này; đến độ nước trở thành nguồn hàng hóa và phải chịu luật thị trường. Trong thực tế, tiếp cận nước uống được bảo đảm là quyền nền tảng và phổ quát của con người, vì nó giúp cho con người được tồn tại và đó là điều tất yếu cho việc thực hiện quyền con người. Thế giới này mang một tội lớn lao đối với người nghèo vì không cho họ tiếp cận nguồn nước uống, điều này có nghĩa là họ bị cướp đi quyền sống, đó là quyền nền tảng cho phẩm giá bất biến của họ. Lỗi lầm này phần lớn là do việc sử dụng tài chính quá ít để chăm sóc đám dân nghèo khổ nhất đủ nước uống và vệ sinh. Thêm nữa, việc phung phí nước không những trong các nước công nghiệp, nhưng ngay trong các quốc gia đang phát triển, có được nguồn dự trữ. Điều này cho thấy, vấn đề nước uống một phần cũng là do vấn đề giáo dục và vấn đề văn hóa, vì thiếu ý thức sự trầm trọng trong thái độ liên hệ bất bình đẳng.

31. Việc thiếu nước trầm trọng gây nên việc gia tăng giá các lương thực và của các sản phẩm phải gắn liền với việc sử dụng nước. Một vài tham luận đã cảnh cáo khả năng thiếu nước trầm trọng trong vài thập niên tới, nếu như không cấp bách hành động. Gánh nặng môi trường có thể gây thiệt hại cho hàng tỉ người, chúng ta có thể thấy trước việc kiểm soát nước của những công xưởng lớn sẽ trở thành nguồn xung khắc chính yếu trong thế kỷ này[23].

III. VIỆC MẤT DẦN SỰ ĐA DẠNG SINH HỌC

32. Những nguồn tài nguyên của trái đất là đối tượng khai thác dựa theo quan niệm của công nghệ và hoạt động thương mại và sản xuất, đưa đến kết quả ngay trước mắt. Việc mất mát rừng rậm và thảo mộc đồng thời đưa đến việc đánh mất các giống loài, trong tương lai có thể là những nguồn quan trọng nhất, không những để nuôi dưỡng, nhưng còn để chữa lành bệnh tật và còn cho nhiều phục vụ đa dạng khác. Nhiều giống loài chứa các gen, là những nguồn tài nguyên cho các phận vụ chủ yếu, có thể giải quyết nhu cầu của nhân loại trong tương lai hay giúp giải quyết một vần đế môi trường nào đó.

33. Người ta không suy nghĩ đủ về nhiều giống loại được xem như “tài nguyên” hữu ích và quên rằng chúng chứa đựng những giá trị đặc thù. Mỗi năm mất đi hàng nghìn loại cây cối và thú vật, mà chúng ta không còn khả năng nhận ra, cả con cái của chúng ta cũng chưa thấy được, hoàn toàn mất đi vĩnh viễn. Phần đông chúng chết là do hoạt động một cách nào đó của con người. Vì lỗi lầm của chúng ta, mà hàng ngàn giống loài không còn tôn vinh sự hiện hữu của Thiên Chúa, cũng không trao lại cho chúng ta sứ điệp của chúng. Chúng ta không có quyền làm như thế.

34. Có lẽ, chúng ta bất an khi cảm nghiệm về cái chết của loài động vật có vú hay của một loài chim, chỉ vì chúng thường xuất hiện trước mắt chúng ta. Nhưng, các cây nấm, tảo, các con sâu, côn trùng, rắn rít và biết bao nhiêu loại vi sinh lại rất cần thiết cho hoạt động tốt của hệ thống sinh thái. Nhiều giống loài nhỏ bé, thường không được con người chú ý, lại giữ một phận vụ cơ bản để tạo sự cân bằng một vị trí. Thật sự, con người phải can thiệp khi hệ thống địa lý bước vào một tình trạng nguy cấp, nhưng ngày hôm nay, mức độ can thiệp của con người, trong một thực tại đa dạng như thiên nhiên có một mức độ, việc can thiệp của con người lại đem đến nhiều tai họa, đến độ hoạt động của con người ở mọi nơi luôn kèm theo những nguy hiểm. Thường xuất hiện những vòng xấu lẫn quẫn khi có sự can thiệp của con người để giải quyết một khó khăn nào đó, nhưng rồi hoàn cảnh tiếp tục tệ hại hơn. Tỉ như nhiều loại chim và côn trùng đã chết đi do các phân bón nông nghiệp được công nghệ sản xuất và sử dụng trên đồng ruộng, thật thì chúng hữu ích cho đồng ruộng và việc biến mất của chúng lại bị thay thế bằng một sự can thiệp khác của kỹ thuật, có thể lại đưa đến các hậu quả tai hại khác. Cũng thật đáng ca tụng và kinh ngạc trước cố gắng của các nhà khoa học và kỹ thuật, cố tìm cách giải quyết các vấn đề do con người làm ra. Nhưng nếu nhìn vào thế giới, chúng ta phải xác nhận, mức độ can thiệp của con người thường là để phục vụ cho tài chính và tiêu thụ, đã làm cho thế giới chúng ta đang sống bớt phong phú và mất đi vẻ đẹp, luôn bị hạn hẹp lại và xáo trộn, trong khi sự phát triển kỹ thuật và mức tiêu thụ tiếp tục vượt qua bất cứ một ranh giới nào. Xem ra, khi chúng ta cố gắng tạo một vẻ đẹp không thể thay thế được, thì lại tạo một thế giới khác hẳn do chính tay của con người.

35. Khi phân tích một bản khảo cứu về ảnh hưởng của môi trường, người ta thường chú ý đến hiệu quả của đất đai, nước và không khí, nhưng lại không có một nghiên cứu cẩn thận nào về hiệu quả của sự đa dạng sinh học, tỉ như việc biến mất vài loại hay nhóm thú vật hay cây cối, gần như việc biến mất này không quan trọng. Xa lộ, các văn hóa mới, những hàng rào sắt, rào chắn và những việc xây dựng khác dần dần chiếm hữu không gian sống và đôi khi cũng ngăn cản, làm cho bầy thú không còn nơi để di chuyển hay di trú, như thế sẽ đưa đến nguy cơ: các thú vật này sẽ bị tiêu diệt. Cũng có sự tương đối – như việc tạo hàng lang sinh học – có thể giảm hậu quả việc xây cất này, cũng chú ý đến và lo lắng trong một số quốc gia. Khi gia tăng một số loại vì nhu cầu thị trường, người ta đã không chú ý đến hình thức tăng trưởng của chúng, để giảm bớt sự dư thừa quá mức và bỏ qua việc mất thăng bằng trong hệ thống sinh học.

36. Việc chăm sóc hệ thống sinh học phải có một cái nhìn vượt trên điều thấy ngay trước mắt, nếu người ta chỉ tìm năng xuất kinh tế nhanh và dễ dàng, thì không ai thực sự chú tâm đến việc bảo vệ. Giá phải trả cho những tai hại do dửng dưng ích kỷ gây nên, còn cao hơn lợi ích kinh tế có thể đạt được Trong trường hợp biến mất hay những tai họa nặng nề cho vài loại, chúng ta sẽ nói về giá trị vượt trên cả sự tính toán của chúng ta. Như thế chúng ta sẽ trở thành những chứng nhân thinh lặng cho sự bất công nặng nề, khi một số người cho răng họ sẽ được lợi lộc quan trọng khi phải trả cho phần còn lại của nhân loại, hiện tại cũng như tương lai, những phí tổn quá cao cho việc tàn phá môi trường.

37. Nhiều quốc gia đã có những bước tiến trong việc bảo vệ có hiệu quả ở nhiều nơi và nhiều vùng – trên đất và cả nơi đại dương – nơi cấm mọi sự can thiệp của con người, thay đổi diện mạo của chúng hay làm sai lệch hình dạng nguyên thủy của chúng. Trong việc bảo vệ đa dạng sinh học, các nhà chuyên môn nhấn mạnh đến sự cần thiết, phải chú tâm đến những vùng có nhiều giống loài qúi hiếm để bảo vệ. Nhiều nơi cần phải chăm sóc đặc biệt vì ý nghĩa to lớn cho hệ thống sinh thái toàn cầu hay vì có những dự trữ nước quan trọng và bảo đảm cho những hình thức khác của sự sống.

38. Chúng ta nêu một tỉ dụ về sự đa dạng của buồng phổi hành tinh, được trình bày bằng vùng sông Amazon và vịnh Kongo, hay những vùng có đầy nước và các băng hà. Chúng ta biết ý nghĩa của những địa điểm này cho toàn thể hành tinh và cho tương lai nhân loại. Hệ thống sinh thái của các rừng nguyên sinh ở nhiệt đới có sự đa dạng sinh thái lớn lao, mà gần như con người không thể biết hết được, dù vậy khi các rừng rậm này bị cháy rụi hay bị tàn phá đế phát triển nông nghiệp, thì trong vài năm không biết bao nhiều loài sẽ bị biến mất, khi các vùng này biến thành những sa mạc khô cằn. Thêm nữa, người ta cũng biết, khi nói về những vùng này, bắt buộc phải đưa đến một hành động quân bình thật tế nhị, vì không quên rằng những lợi lộc tài chính khổng lồ cho toàn cầu, với luận điệu lo lắng cho các nơi này, có thể đi ngược lại chủ quyền của các quốc gia đó. Thực sự cũng đã có ý tưởng “toàn cầu hóa vùng Amazone: những ý tưởng như thế duy chỉ có lợi về mặt kinh tế cho những các cơ quan siêu quốc gia”[24]. Phải đánh giá cao trách nhiệm của các cơ quan quốc tế và các tổ chức xã hội dân sự, cảm thông với dân chúng và hoạt động có tính chất phê phán – khi sử dụng cả áp lực hợp phán – để mỗi chính quyền mang trách nhiệm không thể chuyên nhượng để bảo vệ môi trường cũng như các tài nguyên thiên nhiên của quốc gia mình, mà không bán cho những cơ quan chỉ tìm lợi lộc bất chính địa phương hay quốc tế.

39. Việc thay thế những cánh rừng nguyên sinh bằng những vùng trồng cây khác, thường chỉ là độc canh, sẽ không trở thành đối tượng cho việc phân tích thích đáng. Thực vậy, việc thay thế này có thể gây ảnh hưởng trầm trọng cho sự đa dạng sinh học, thường không đón nhận loại cây mới được trồng. Ngay cả những vùng ẩm ướt, bị biến thành vùng đất canh tác, cũng mất đi sự đa dạng sinh học mà chúng đã chứa chất. Trong vài vùng ven biển, việc đánh mất hệ thống sinh thái do các vùng đầm sú gây nhiều lo lắng.

40. Các đại dương không những chứa đựng một phần lớn lượng nước của hành tinh, nhưng có cả một phần lớn sinh vật thật đa dạng, trong số đó chúng ta chưa biết được nhiều và chúng đang bị hăm dọa vì nhiều lý do. Mặt khác, cuộc sống trên sông, ao hồ, biển cả và đại dương, chu cấp lương thực cho phần lớn dân số trên trái đất, sẽ bị tai họa do việc đánh bắt cá không bị kiểm soát, tạo nên việc sa sút nhiều giống loài. Thêm nữa người ta đang phát triển nhiều cách đánh bắt cá có chọn lọc, tàn phá một phần lớn giống loài bị bắt. Đặc biệt, các sinh vật biển gặp nguy hiểm mà chúng ta không suy nghĩ đến, như một số sinh vật nổi được biết đến, tạo nên những thành phần quan trọng cho chuỗi lương thực biển khơi và thuộc về những loài phục vụ cho lương thực cho chúng ta.

41. Khi chúng ta khảo sát các đại dương thuộc vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, chúng ta sẽ gặp các tảng san hô, được xem như các rừng nguyên sinh trên trái đất, vì chúng là nơi có hằng triệu loài trú ngụ, trong đó có cá, cua, hào, sứa, tảo và nhiều loại khác. Nhiều rừng san hô ngày hôn nay bị khô cằn hay đang nằm trong tình trạng bị tiêu diệt dần: “Ai đã biến thế giới dưới lòng đại đương trở thành nghĩa địa dưới nước không có sự sống, không còn màu sắc gì cả?”[25]. Hiện tượng này phần lớn là do việc làm ô nhiễm nơi đại dương như hiện tượng phá rừng, độc canh trong nông nghiệp, rác thải do công nghiệp và những phương pháp hủy hoại của việc đánh bắt cá khi sử dụng Cyanure và thuốc nổ. Hiện tượng này càng bị làm gia tăng do nhiệt độ trong đại dương càng tăng cao. Những điều này giúp chúng ta nhận thức, tất cả việc tấn công vào thiên nhiên cũng sẽ đưa đến hậu quả, ngay lúc đầu chúng ta không thấy được, nhưng những hình thức sử dụng tài nguyên sẽ đưa đến cái giá phải trả là sự tàn phá, cuối cùng sẽ đi đến đáy của đại dương.

42. Cần phải đầu tư nhiều để có thể hiểu việc gìn giữ hệ thống sinh thái tốt đẹp hơn và phân tích hiệu quả những thay đổi quan trọng của môi trường. Vì tất cả tạo vật đều liên kết với nhau, cần phải đánh giá chúng với tình yêu và thán phục, và tất cả như những hữu thể mà chúng ta đều cần đến. Mỗi mảnh đất đều có một tránh nhiệm phải chăm sóc cho gia đình này. Vậy cần phải lo lắng để gìn giữ các giống loài mà chúng đang cho trú ngụ, phải triển khai một chương trình và chiến thuật để chăm sóc đặc biệt các giống loài, đang trong tình trạng bị hủy hoại.

IV. SUY GIẢM PHẨM CHẤT CUỘC SỐNG VÀ SUY THOÁI CỦA XÃ HỘI

43. Nếu chúng ta nhận thức con người là một thụ tạo trên trái đất này, họ có quyền sống và hạnh phúc, ngoài ra còn có một phẩm giá rất đặc biệt; chúng ta không thể bỏ qua các hậu quả của việc tàn phá môi trường, của mẫu phát triển hiện hành và văn hóa đào thải đối với sự sống của con người.

44. Ngày nay, tỉ dụ, chúng ta quan sát sự phát triển vô giới hạn, vô trật tự của các tỉnh thành, đến độ không còn có thể sống lành mạnh tại đây, không những vì việc ô nhiễm do khí thải độc hại, nhưng còn vì sự lộn xộn trong thành phố, vì vấn đề giao thông và khổ ải vì tiếng động và mầu sắc. Nhiều thành phố đã trở thành những cơ cấu không chút kinh tế, sử dụng năng lượng và nước quá tải. Có những khu phố, dù mới được xây dựng, bị tắt nghẽn và vô trật tự, không có đủ các mảng xanh. Điều này không thích ứng cho dân cư của hành tinh, bị chết nghẹt vì xi-măng, dầu đường, các tấm kiến, kim loại và cướp đi sự liên hệ thể lý với thiên nhiên.

45. Nhiều vùng trong thành thị cũng như thôn quê bị tư nhân hóa đất đai, gây khó khăn cho dân cư khó tiếp xúc với các vùng này và không thể chiêm ngắm vẻ đẹp các nơi đây. Nhiều nơi khác, người ta tạo những vùng “sinh thái” để chỉ phục vụ một ít người, nhưng cấm kẻ khác bước vào để đừng phá sự yên tĩnh nhân tạo. Người ta cũng tìm thấy một thành phố có những không gian xanh được chăm sóc tốt đẹp thường ở những nơi “được bảo đảm”, nhưng lại không có trong những vùng của những người bị xã hội loại trừ.

46. Nơi những thành phần xã hội của việc thay đổi toàn cầu cũng có những hiệu quả của việc thay đổi về mặt kỹ thuật trên lao động, sự loại trừ về mặt xã hội, bất bình đẳng trong việc phân phối và sử dụng năng lượng và những việc phục vụ khác, sự phân rẽ xã hội, gia tăng bạo lực và xuất hiện những hình thức tấn công xã hội, việc buôn bán ma túy và gia tăng lượng xì ke nơi giới trẻ, việc mất đi căn tính. Đó là những dấu chứng giữa những thứ khác, cho thấy việc phát triển trong hai thế kỷ sau cùng, dưới nhiều phương diện không mang ý nghĩa phát triển và làm tốt phẩm chất cuộc sống. Vài dấu chỉ cho thấy hiện tượng sa sút về mặt xã hội, một sự đổ vỡ âm thầm của những liên hệ hội nhập và cộng đồng xã hội.

47. Ngoài ra còn có sự năng động của các phương tiện truyền thông xã hội và thế giới kỹ thuật số, một khi đã hiện diện ở khắp nơi, không thích hợp để triển khai khả năng sống khôn ngoan, suy tư sâu xa và tình yêu quảng đại. Những người khôn ngoan trong quá khứ, trong môi trường này, sẽ nhìn thấy sự khôn ngoan của mình tắt dần giữa sự ồn ào của các quảng cáo. Điều này đòi buộc chúng ta phải cố gắng để những phương tiện liên hệ đưa ra một sự phát triển về mặt văn hóa của nhân loại và không đánh mất sự phong phú sâu xa nhất. Sự khôn ngoan đích thực, do suy tư, đối thoại và gặp gỡ khoan dung giữa con người, không thể đạt được do việc chất đầy những dữ kiện, chỉ đưa đến một thứ thỏa mãn làm ô nhiễm môi trường tinh thần. Đồng thời cũng có xu hướng trong liên hệ đích thực với người khác với đòi hỏi phải thay thế qua mạng. Điều này cho phép chọn lựa hay loại bỏ những liên hệ theo sở thích của chúng ta, từ đó nảy sinh một mẫu tình cảm nhân tạo, chỉ qua máy móc hay màn ảnh hơn là với con người và vạn vật. Những phương tiện hiện hành đưa đến việc chúng ta trao đổi kiến thức và tình cảm với nhau. Dù vậy, đôi khi chúng ngăn cản chúng ta bước vào liên hệ trực tiếp với âu lo, bất an, niềm vui với kẻ khác và với cảm nghiệm cá nhân của mình. Vì thế chúng ta cũng không lấy làm lạ, dù có quá nhiều sản phẩm, nhưng vẫn có một sự không thỏa mãn chua xót nào đó trong liên hệ giữa con người hay một sự cô đơn buồn thảm.

V. SỰ BẤT BÌNH ĐẲNG TOÀN CẦU VỀ MẶT XÃ HỘI

48. Môi trường nhân loại và môi trường tự nhiên cùng xấu đi và chúng ta không thể đối mặt với sự hủy hoại môi trường, nếu không chú tâm đến các nguyên nhân liên kết với việc sa sút trên bình diện con người lẫn xã hội. Thật vậy, sự hủy hoại môi trường và xã hội gây tác hại cách đặc biệt cho những gì yếu đuối nhất của hành tinh: “Như kinh nghiệm chung của đời sống hằng ngày cũng như việc nghiên cứu theo khoa học cho thấy những người nghèo nhất phải chịu hậu quả nặng nề nhất của mọi thứ tấn công vào môi trường”[26]. Tỉ dụ như việc làm cạn nguồn các loài cá, gây nguy hại đặc biệt cho những người sống về nghề cá và không còn gì để thay thế được; việc làm ô nhiễm nguồn nước đụng chạm đặc biệt đến những người nghèo khổ nhất, họ không có khả năng để mua nước trong chai lọ, và việc mặt nước biển dâng cao ảnh hưởng trên những cư dân ven bờ, không có khả năng tìm nơi cư trú khác. Hậu quả của các hình thức hiện hành về việc sái trật tự được thấy rõ nơi những cái chết sớm ở người nghèo, trong sự xung khắc vì thiếu tài nguyên và nhiều vấn đề khác, không còn đủ không gian cho trật tự hiện hành này của thế giới[27].

49. Tôi muốn nhấn mạnh, người ta không có những trình bày rõ ràng về các vấn đề ảnh hưởng đặc biệt trên những người bị xã hội loại trừ. Họ là thành phần đông đảo nhất của hành tinh, hàng tỉ người. Ngày nay, họ chỉ được trình bày trong các thảo luận chính trị và kinh tế toàn cầu, nhưng hình như vấn đề của họ chỉ được xem như một thứ phụ lục, được thêm vào vì bị bó buộc hay phải nằm bên lề, khi người ta không xem họ như một vấn đề tệ hại phụ thuộc. Trong thực tế, khi đi vào hoạt động cụ thể, họ thường chỉ được nhìn ở vị trí cuối. Điều này chỉ vì, các nhà chuyên môn, lãnh đạo ý kiến, trung tâm liên lạc và quyền lực đã ở quá xa họ, trong những vùng thành phố bên lề, không có liên hệ gì đến vấn đề của những người bị loại. Những vị này sống và suy nghĩ từ một sự thoải mái theo cái nhìn của trình độ phát triển và một phẩm chất cuộc sống mà phần đông dân chúng toàn cầu không có được. Sự thiếu sót trong việc đụng chạm thể lý và gặp gỡ, đôi khi vì sự phân rẽ trong thành phố của chúng ta, giúp họ trấn an lương tâm và không biết đến một phần thực tế qua những phân tích lộn xộn của họ. Điều này cũng liên kêt với những bài diễn văn “xanh”. Nhưng ngày nay chúng ta phải nhận rằng, một tiếp cận đích thực về mặt môi sinh phải biến thành một tiếp cận xã hội, phải có nhận định về mặt công bình trong các bàn thảo về môi trường, để lắng nghe tiếng than của trái đất, cũng như của người nghèo.

50. Thay vì giải quyết vấn đề của người nghèo và suy nghĩ về một thế giới khác, một số người chỉ đề nghị việc hạn chế sinh sản. Không thiếu những áp lực quốc tế trên các nước phát triển, trong khi những việc giúp đỡ kinh tế cho một số quyết định chính trị gắn liền với việc “sức khỏe sinh sản”. Những “việc chia sẻ dân chúng không đều và tài nguyên trong việc sử dụng lại ngăn cản việc phát triển và việc sử dụng lâu dài môi trường, người ta phải công nhận rằng, việc gia tăng dân số phải phối hợp với việc phát triển trọn vẹn và liên đới”[28]. Kết án việc gia tăng dân số và không đếm xỉa gì đến việc tiêu thụ quá đáng của một số người ưu tuyển, thì không thể là cách thế giải quyết vấn đề. Một cố gắng, hợp pháp hóa mẫu hiện tại của việc phân chia, trong đó số ít tin rằng mình có quyền tiêu thụ, điều không thể nào phổ quát cho tất cả mọi người được, chỉ vì hành tinh không thể có khả năng chịu đựng được rác thải của một thứ tiêu thụ như vậy được. Ngoài ra chúng ta cũng biết rằng, một phần ba lương thực cho cuộc sống bị phung phí và “lương thực bị bỏ đi, cũng là cướp đi từ bàn ăn của người nghèo”[29]. Dù vậy, phải chú tâm đến sự mất cân bằng trong việc phân chia dân số trên đất đai, về phương diện quốc gia cũng như trên phương diện toàn cầu, chỉ vì sự gia tăng sức tiêu thụ sẽ đưa đến sự lộn xộn trong hoàn cảnh của nhiều vùng vì liên hệ đến các vấn đề như ô nhiễm môi trường, giao thông, xử sự với rác thải, tài nguyên bị thất thoát và phẩm chất cuộc sống.

51. Sự bất bình đẳng không chỉ ảnh hưởng đến từng cá nhân, nhưng trọn cả đất nước, buộc phải suy nghĩ đến đạo đức trong liên hệ quốc tế. Thật vậy, có một “món nợ về mặt môi sinh” – đặc biệt giữa miền bắc và miền nam – liên kết với sự bất bình đẳng trong thương mại và những hậu quả của chúng trên bình diện môi trường cũng như với việc sử dụng bất bình đẳng các tài nguyên thiên nhiên. Việc xuất khẩu vài thứ nguyên liệu thô, thỏa mãn thương trường của miền bắc với công nghệ của họ, đã tạo nhiều tai hại cho địa phương như việc gây ô nhiễm với chất thủy ngân trong các mỏ vàng hay gây độc hại với chất dioxid lưu huỳnh trong các mỏ đồng. Người ta phải chịu trách nhiệm trước sự kiện sử dụng không gian môi sinh của cả hành tinh để chất chứa các khí thải, gom góp lại trong vòng hai thế kỷ và đã tạo ra hoàn cảnh đưa tất cả quốc gia trên trái đất cùng chịu khổ. Sự đun nóng do việc tiêu thụ kinh khủng của các nước giàu, đưa đến hậu quả trong các vùng nghèo khổ trên trái đất, đặc biệt là Phi Châu, mà việc gia tăng nhiệt độ đưa đến khô hạn, tàn phá các vùng canh tác. Còn những tai hại khác, việc xuất khẩu các rác thải cứng và lỏng độc hại vào các nước đang phát triển và qua tác động gây hại cho môi trường do các các nước giàu, vì cho rằng họ mang tài chính đến các nước nghèo này: “Chúng tôi xác nhận các nhà kinh doanh quốc tế, đã làm như thế tại đây điều mà họ không được phép làm trong các nước phát triển, thường được gọi là thế giới thứ nhất. Nói cách chung, họ phải ngưng ngay hoạt động của họ và rút khỏi nơi đây, họ đã để lại nhiều tai hại cho con người và môi trường như thất nghiệp, làng mạc không sức sống, cạn kiệt dự trữ tự nhiên, rừng bị tàn phá, làm nghèo cả nông nghiệp địa phương và nuôi súc vật, cỏ dại, đồi trọc, sông bị nhiễm khuẩn và vài công tác xã hội không còn khả năng tiếp tục”[30].

52. Món nợ bên ngoài của các nước nghèo trở thành một công cụ quản lý, nhưng nó không giống với món nợ môi trường. Theo nhiều cách, một ít dân tộc phát triển chú tâm đến việc dữ trữ môi sinh, tiếp đến là việc phát triển các nước giàu nhất, dựa trên giá trị của hiện tại và tương lai. Đất đai của người nghèo ở miền nam thật phì nhiêu và ít bị hủy hoại môi trường, nhưng để chiếm hữu những tài sản và tài nguyên này để thỏa mãn cho cuộc sống, họ bị một hệ thống thương mãi và sở hữu quái ác ngăn cấm. Các nước phát triển cần phải giải quyết món nợ này, bằng cách giới hạn việc sử dụng năng lượng không thể tái hồi và phải cứu trợ cho những nước cần nhất, để nâng đỡ hệ thống chính trị và những chương trình giúp cho việc phát triển lâu dài. Những vùng và các quốc gia nghèo nhất có rất ít khả năng để áp dụng các mẫu mới để thu hẹp các tai họa của hoạt động con người trên môi trường, vì họ không được đào tạo để triển khai các tiến trình cần thiết và họ cũng không có khả năng để trả phí tổn. Vì thế, người ta phải ý thức, trong việc thay đổi khí hậu, phải có những ý thức cần thay đổi (diversifizierte Verantwortlichkeiten – responsabilités diversifíées) và – như các Giám Mục nước Mỹ nói – “phải tập trung vào nhu cầu đặc biệt của người nghèo, người yếu đuối và những người bị thương tật, trong một tham luận thường chỉ chú tâm vào lợi ích của những người giàu”[31]. Chúng ta cần ý thức mạnh mẽ hơn, chúng ta là một gia đình nhân loại duy nhất. Không có ranh giới hay rào cảng chính trị ngăn cách chúng ta lẽ loi, vì lý do đó, không có chỗ cho việc toàn cầu hóa sự dửng dưng.

VI. SỰ YẾU KÉM CỦA CÁC PHẢN ỨNG

53. Những hoàn cảnh này gợi lên tiếng rên siết của chị trái đất, liên kết với các tiếng rên siết của những kẻ bị bỏ rơi trên trái đất, trong tiếng khóc than yêu cầu chúng ta chuyển đi một hướng khác. Không bao giờ chúng ta lại đối xử tàn tệ và làm thương tổn ngôi nhà chung của chúng ta như trong hai thế kỷ qua. Nhưng chúng ta đã được kêu gọi để thành khí cụ của Thiên Chúa, Cha của chúng ta, để hành tinh của chúng ta được trở nên như ước muốn của Người khi Người sáng tạo nên nó, và đáp ứng được dự kiến hòa bình, đẹp đẻ và tràn đầy. Vấn đề là chúng ta chưa có thứ văn hóa cần thiết để đối mặt với cơn khủng hoảng này; cần phải tạo nên một nhóm lãnh đạo leaderships, để vạch con đường trong lúc tìm cách đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại gồm trọn tất cả mọi người, mà không gây nguy hại cho các thế hệ đang đến. Cần phải tạo một hệ thống pháp lý, cho thấy các ranh giới không vượt lên và bảo đảm việc bảo vệ hệ thống môi sinh, trước khi có những hình thức quyền lực, dựa vào mô mẫu kinh tế-kỹ thuật, cuối cùng phá tan không những chính trị, nhưng cả sự tự do và công bằng.

54. Người ta thấy rõ sự yếu kém về mặt phản ứng chính trị toàn cầu. Chính trị phải tùng phục kỹ thuật và vần đề tài chính, điều này cho thấy trong sự thất bại của cả thế giới về vấn đề môi trường. Có quá nhiều lợi lộc kinh tế riêng tư, và cũng dễ dàng nhằm vào lợi lộc kinh tế, đưa đến người nắm quyền đánh giá cao ích lợi chung và khuynh đảo những thông số để không ảnh hưởng gì đến những chương trình riêng của họ.Theo nghĩa này, Tài Liệu Aparecida, đòi buộc “khi khai thác các tài nguyên tự nhiên, không được phép chỉ nhắm đến lợi ích các nhóm kinh tế, họ chỉ tàn phá một cách bất hợp lý các nguồn sống”[32]. Sự liên kết giữa kinh tế và kỹ thuật sẽ bỏ qua tất cả những gì không dính dáng đến lợi ích trực tiếp của họ. Như thế, người ta chỉ nghe những tuyên bố hời hợt, vài hành động đơn độc già hình và cả những cố gắng cho thấy họ cũng chú tâm đến môi trường, nhưng trong thực tế, cố gắng tổ chức xã hội như thay đổi sự vật, chỉ gây khó chịu do các ảo tưởng lãng mạn hay như một sự ngăn cản phải đối mặt.

55. Dần dần một số quốc gia cũng có thể minh chứng những bước tiến có ý nghĩa, phát triển các kiểm soát có hiệu quả và một sự chiến đấu đích thực chống lại sự hủy hoại. Có nhiều cảm nghiệm về mặt môi sinh trong quần chúng, nhưng cũng không đủ để thay đổi các thói quen tiêu thụ có hại, không phải loại bỏ, nhưng phổ biến và triển khai. Để đưa ra một tỉ dụ đơn sơ, việc sử dụng các máy lạnh ngày càng tăng và nhiều hiệu năng hơn. Các thị trường hưởng lợi trực tiếp, càng kích thích những yêu cầu này. Nếu có ai đứng bên ngoài chú ý đến dân chúng trên trái đất này, sẽ rất kinh ngạc vì thái độ này, vì cho đến bây giờ thái độ này bị xem như một thứ tự tử.

56. Trong thời gian qua, các quyền lực kinh tế tiếp tục hợp pháp hóa hệ thống toàn cầu hiện tại, bằng cách nêu lên một định hướng và một cố gắng theo lợi nhuận tài chính để làm quên đi hiện trạng cũng như hậu quả trên phẩm giá con người và môi trường. Như thế rõ ràng, việc làm ô nhiễm các điều kiện môi trường và ô nhiễm trên bình diện nhân phẩm và đạo đức, liên kết mật thiết với nhau. Nhiều người nói rằng, họ không ý thức việc làm của họ vô đạo đức, vì việc phủ nhận giúp chúng ta can đảm nhìn thực tại trong một thế giới bị hạn hẹp chóng qua. Vì thế mà ngày nay “tất cả những gì yếu đuối cũng như môi trường không có gì tự vệ để chống lại lợi ích của thị trường, được thần thánh hóa, trở thành lề luật tuyệt đối”[33].

57. Có thể thấy trước rằng, đối diện với việc làm cạn kiệt một số tài nguyên, sẽ đưa đến một hoàn cảnh, dễ dàng tạo ra chiến tranh, giấu mặt dưới sự yêu sách cao thượng. Chiến tranh sẽ gây biết bao tai họa nặng nề cho môi trường cũng như cho sự phong phú về mặt văn hóa của dân chúng, và nguy cơ sẽ gia tăng khủng khiếp, khi người ta nghĩ đến các khí giới hạt nhân và sinh học. Vì “dù các thỏa thuận toàn cầu đã có việc nghiêm cấm các loại chiến tranh hoá học, vi khuẩn và sinh học, nhưng thực sự, trong các phòng thí nghiệm người ta vẫn tiếp tục tìm kiếm chế tạo các vũ khí tấn công mới, có thể thay đổi sự quân bình tự nhiên”[34]. Về mặt chính trị, cần phải có một sự chú ý đặc biệt trong mọi hoàn cảnh để thấy trước và giải quyết các xung khắc mới. Thế nhưng, quyền lực liên kết với hệ thông kinh tế, thì những cố gắng đáng được mơ ước, sẽ làm cho các chương trình chính trị không thể nào đi xa được. Tại sao ngày nay người ta lại muốn giữ một quyền lực, mà người ta đã thấy sự bất lực của nó trong quá khứ, để can thiệp khi tình trạng khẩn cấp và cần thiết?

58. Trong một số nước, có nhiều tấm gương tích cực trong việc làm tốt môi trường. Như việc làm sạch một số sông bị ô nhiễm trong nhiều thập kỷ, hay trồng lại các cánh rừng địa phương hay làm đẹp các cánh đồng nhờ các công tác làm sạch môi trường hay những dự án xây dựng nhà cửa với nhiều giá trị thẩm mỹ hay phát triển trong việc sản xuất năng lượng không gây ô nhiễm, làm tốt các phương tiện giao thông và các việc khác nữa. Các hoạt động này chưa giải quyết được vấn đề toàn cầu, nhưng dù sao cũng cho thấy, con người có khả năng can thiệp cách tích cực. Con người được tạo dựng để yêu, giữa các hạn hẹp của mình, cũng có thể đưa đến các cử chỉ quảng đại, liên đới và chăm sóc.

59. Nhưng đồng thời, một khoa sinh thái bề ngoài và hời hợt, chỉ giúp cho sự vô trách nhiệm và dửng dưng. Trong những giai đoạn khủng hoảng lớn lao, đòi hỏi phải có những quyết định can đảm, chúng ta lại nghĩ rằng những gì đang xảy ra thì không rõ lắm. Nếu như chúng ta chỉ nhìn các sự vật theo bề ngoài, qua những dấu chỉ khả giác về ô nhiễm và suy thoái, thì có cảm giác là các dấu chỉ này không trầm trọng mấy và hành tinh có thể tồn tại lâu dài dưới những điều kiện hiện nay. Thái độ thoái thác này cho phép chúng ta tiếp tục vẫn giữ được lối sống cũng như thói quen sản xuất và tiêu thụ. Đó là cách con người cho tất cả đều tốt đẹp, nhưng lại gây thêm những gánh nặng tự hủy hoại chính mình: con người cố không nhìn thấy tình trạng đó, không công nhận, không đưa ra những quyết định quan trọng, cứ xem như không có gì quan trọng đang diễn ra.

VII. NHỮNG Ý KIẾN KHÁC BIỆT

60. Cuối cùng, chúng ta nhận ra rằng có nhiều cách nhìn và đường hướng suy tư triển khai để đi đến những cách giải quyết khả thể. Một mặt, nhiều người đại diện kiên định với huyền thoại phát triển và cho rằng, vấn đề môi sinh có thể giải quyết một cách đơn sơ với những chương trình kỹ thuật mới, không màn đến đạo đức và những thay đổi căn bản. Mặt khác, người ta cho rằng, con người chỉ gây thêm tổn hại với sự can thiệp của mình và ảnh hưởng đến hệ thống môi sinh toàn cầu. Vì thế, phải thu hẹp sự hiện diện của con người trên hành tinh này và ngăn cấm mọi thứ can thiệp. Giữa hai thái cực này, phải suy nghĩ đến những kịch bản khả thể trong tương lai, vì không phải chỉ có một cách giải quyết duy nhất. Điều này mở ngõ cho nhiều tranh luận khác nhau, có thể đi đến đối thoại hướng vào những câu trả lời trọn vẹn.

61. Về những vấn nạn cụ thể, trên nguyên tắc, Giáo Hội không có lý do để đề nghị một giải đáp dứt khoát và Giáo Hội hiểu, phải biết lắng nghe, sau đó đề nghị một cuộc tranh luận giữa các nhà khoa học, nhưng phải luôn tôn trọng các ý kiến khác biệt. Chỉ cần nhìn thực tại cách thành thật để thấy ngôi nhà chung của chúng ta đang bị hủy hoại. Hy vọng mời gọi chúng ta nhận ra, vẫn còn có lối thoát, vẫn luôn có khả năng xác nhận hướng đi cách mới mẽ, vẫn có khả năng làm một điều gì đó để giải quyết vấn đề. Dù vậy, nhiều hiện tượng của một sự gãy đổ do vận tốc thay đổi và hư hoại thật lớn lao đã được nhận ra trong các tai họa thiên nhiên theo từng vùng cũng như khủng hoảng xã hội hay cả về mặt tài chánh, vì vấn đề thế giới không thể nào phân tích hay tách rời cách đơn độc. Nhiều vùng đang gặp nguy hiểm đặc biệt, và không cần nhìn đến những dự đoán các tai họa, cho thấy hệ thống toàn cầu hiện hành dưới nhiều phương diện không còn có thể chấp nhận được nữa, vì chúng ta đã không suy nghĩ đến mục đích hoạt động của con người: “Khi chúng ta nhìn vào nhiều vùng khác nhau trên hành tinh, thật đau buồn để nhận ra rằng, nhân loại đã làm hỏng các sự chờ đợi của Thiên Chúa”[35].

Chương II: TIN MỪNG VỀ SỰ SÁNG TẠO

62. Tại sao, trong bản văn được gởi đến cho tất cả mọi người có thiện chí, lại có một chương nói về xác tín của niềm tin? Tôi biết rõ rằng, trong lãnh vực chính trị và suy tư, một số người mạnh mẽ phủ nhận ý tưởng về Đấng Sáng Tạo hay xem đó là không quan trọng, hay chỉ được xem là phong phú cho các tôn giáo khi nói về môi sinh cách trọn vẹn và một sự phát triển nhân loại mà thôi. Trong những trường hợp khác, người ta xem các tôn giáo chỉ là một thứ văn hóa thấp kém (Subkultur – sous-culture), tạm chấp nhận. Thêm nữa, khoa học và tôn giáo đưa ra những tiếp cận rất khác biệt về thực tại, có thể bước vào một cuộc đối thoại năng động và hữu ích cho cả hai phía.

I. ÁNH SÁNG DO NIỀM TIN MANG ĐẾN

63. Khi chú tâm vào sự đa dạng của cơn khủng hoảng môi trường và các nguyên nhân muôn mặt của nó, chúng ta phải công nhận, các giải pháp không thể đến từ một con đường duy nhất do việc giải thích thực tại và thay đổi chúng. Cần phải có sự hỗ trợ của nhiều văn hóa phong phú, nghệ thuật và thi ca của các dân tộc về cuộc sống nội tại và cả tinh thần, Nếu chúng ta thật sự muốn gầy dựng một môi trường sinh thái, tái lập lại những gì chúng ta đã hủy hoại, thì không được phép bỏ qua những nghành khoa học và các hình thức khôn ngoan, ngay cả tôn giáo cũng như ngôn ngữ tôn giáo. Về mặt này, Giáo Hội Công Giáo đã mở ra những cuộc đối thoại với các tư tưởng triết học, nhờ đó đã đưa đến các tổng hợp khác nhau giữa lý trí và niềm tin. Những gì đụng chạm đến vấn đề xã hội, cũng có thể tìm thấy trong quá trình phát triển Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội; giáo huấn này luôn mời gọi phải luôn được làm phong phú dựa vào những đòi hỏi mới mẽ.

64. Mặt khác, dù Thông Điệp này khai mở một cuộc đối thoại với tất cả mọi người để cùng nhau tìm con đường giải thoát chung – ngay từ đầu, Tôi xin đưa ra những xác tín của niềm tin cho các Kitô hữu và phần đông những người tin thuộc các tôn giáo khác, những động lực quan trọng để chăm sóc thiên nhiên và các anh chị em yếu đuối nhất. Duy chỉ sự kiện làm người, cũng thúc đẩy con người phải chăm sóc thiên nhiên mà chúng ta là thành phần của chúng, “đặc biệt, các Kitô hữu […] biết rõ rằng bổn phận của họ ở giữa thiên nhiên và trách nhiệm của họ đối với thiên nhiên và với Đấng Sáng Tạo là thành phần căn bản cho niềm tin của họ”[36]. Vì thế, một điều tối lành cho nhân loại và cho thế giới là chúng ta, những kẻ tin, biết rõ những việc dấn thân cho môi sinh phải xuất phát từ xác tín của chúng ta.

II. SỰ KHÔN NGOAN CỦA CÁC TRÌNH THUẬT TRONG THÁNH KINH

65. Không cần phải lập lại toàn bộ thần học Sáng Tạo, chúng ta tự hỏi các trình thuật lớn của Thánh Kinh nói gì về liên hệ của con người với thế giới. Trong trình thuật đầu tiên về công trình Sáng Tạo trong sách Sáng Thế, chương trình của Thiên Chúa được gói trọn trong việc sáng tạo con người. Sau việc sáng tạo con người, Sách Thánh nói: “Thiên Chúa nhìn thấy tất cả những gì Người sáng tạo: Người thấy thế là tốt “(St 1,31). Thánh Kinh dạy, mỗi con người đều được sáng tạo từ tình yêu, như hình ảnh của Thiên Chúa và giống Thiên Chúa (x. St 1,26). Lời công bố này cho chúng ta thấy phẩm giá lớn lao của từng con người: “Con người không phải là sự vật, nhưng là một người nào đó. Con người có khả năng nhận thức về mình, làm chủ mình, tự do để ban phát và bước vào liên hệ với những người khác”[37]. Vị thánh Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II nhắc nhớ rằng, tình yêu hoàn toàn đặc biệt mà Đấng Sáng Tạo dành cho từng con người, đã trao cho họ phẩm giá cao sang vô cùng[38]. Những ai muốn bảo vệ phẩm giá con người, có thể tìm được trong niềm tin Kitô giáo những lý luận sâu xa nhất cho trách nhiệm này. Một sự chắc chắn tuyệt vời khi không đánh mất đời sống một con người bị rơi vào sự lộn xộn vô vọng, trong một thế giới phải bước đi trong sự tình cơ thuần túy hay những chu kỳ, cứ đáo đi đáo lại thật vô nghĩa. Đấng Sáng Tạo có thể nói với từng người trong chúng ta: “Trước khi tạo hình dáng cho ngươi trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi” (Gr 1,5). Chúng ta đã được nhận ra trong tình yêu của Thiên Chúa, và vì thế: “Mỗi người là hoa trái một suy tư của Thiên Chúa. Mỗi người được Thiên Chúa muốn như thế, mỗi người được yêu và mỗi người thật cần thiết”[39].

66. Trình thuật sáng tạo trong sách Sáng Thế, trong ngôn ngữ biểu trưng và trình thuật, chứa đựng những lời giảng dạy sâu xa về hiện sinh con người và thực tại lịch sử của họ. Trình thuật này muốn nói, hiện sinh con người dựa trên ba sự liên hệ căn bản, liên kết với nhau thật mật thiết: liên hệ với Thiên Chúa, với tha nhân và với trái đất. Theo như lời Thánh Kinh, ba liên hệ sống động này đã bị phá vỡ, không những bên ngoài, nhưng cả nội tại bên trong. Sự đổ vỡ này là tội lỗi. Sự hòa hợp giữa Đấng Sáng Tạo, nhân loại và toàn thể sáng tạo đã bị phá vỡ qua hành động muốn thay thế vị trí của Thiên Chúa, khi từ chối công nhận chúng ta là những thụ tạo hữu hạn. Hành động này đã làm sai lệch mệnh lệnh “cai quản” trái đất (x, St 1, 28) “xây dựng” và “che chỡ” trái đất (x. St 2,15). Như hậu quả là liên hệ thật hòa hợp thuở ban đầu giữa con người và thiên nhiên bước vào xung khắc (x. St 3, 17-19). Vì lý do đó, thật ý nghĩa khi sự hòa hợp mà thánh Phaxicô chia sẻ với vạn vật, được xem như cách cứu chữa sự đổ vỡ này. Thánh Bonaventura nói, thánh Phaxicô “khi Người sống hòa bình với tất cả thụ tạo” đã đạt được “tình trạng trước nguyên tội”[40]. Bước ra khỏi mẫu gương này, ngày hôm nay, tội lỗi đã xuất hiện với tất cả sự tàn phá trong chiến tranh, trong nhiều hình thức khác nhau của quyền lực và ngược đãi, trong việc bỏ rơi kẻ yếu và tấn công vào thiên nhiên.

67. Chúng ta không phải là Thiên Chúa. Trái đất đã có trước chúng ta và được ban cho chúng ta. Điều này cho phép trả lời một kết án đối với suy nghĩ theo Do Thái giáo và Kitô giáo: Người ta nói rằng, trình thuật sáng thế mời gọi con người “thống trị” trái đất (so St 1,28), việc bóc lột khủng khiếp thiên nhiên qua cách trình bày con người như chủ và tàn phá. Đấy không phải là cách giải thích Thánh Kinh đúng đắn, như Giáo Hội hiểu. Thật sự, đôi khi, những người Kitô hữu chúng tôi giải thích sai Thánh Kinh, nhưng ngày hôm nay chúng tôi phải xác nhận rõ ràng, từ sự kiện được sáng tạo theo hình ảnh của Thiên Chúa và với mệnh lệnh cai quản trái đất, từ đó đưa đến quyền thống trị các tạo vật khác. Điều quan trọng, phải đọc Thánh Kinh trong mạch văn của nó, với sự chú giải thích hợp, và phải nhớ rắng, các bản văn này mời chúng ta “canh tác” và “gìn giữ” ngôi vườn của Thiên Chúa (x. St 2,15). Thuật ngữ “canh tác” có nghĩa là trồng trọt, khai hoang hay làm việc, và thuật ngữ “gìn giữ” có nghĩa là bảo vệ, cứu giúp, giữ gìn, chăm sóc, canh chừng. Điều này đưa đến sự liên kết hỗ tương giữa con người và thiên nhiên. Mỗi cộng đoàn được quyền thu nhặt từ trái đất những gì cần thiết để sống, nhưng có trách nhiệm bảo vệ và làm cho sự phì nhiêu được tiếp tục dành cho thế hệ tương lai. Dứt khoát “trái đất thuộc về Thiên Chúa” (Tv 245,1), “trái đất và tất cả những gì sống trên trái đất” (Đnl 10,14) đều thuộc về Người. Vì lý do đó, Thiên Chúa phủ nhận tất cả ý đồ chiếm hữu tuyệt đối: “Đất thì không được bán đứt, vì đất là của Ta, còn các ngươi chỉ là ngoại kiều, là khách trọ nhà Ta” (Lv 25,23).

68. Trách nhiệm đối với trái đất, một trái đất thuộc về Thiên Chúa, cho thấy con người có lý trí, biết tôn trọng các lề luật của thiên nhiên và sự quân bình tế nhị giữa các hữu thể trong thế giới này, chỉ vì “Người ra lệnh, là hết thảy được tạo thành. Người định nơi cho tất cả đến muôn đời muôn thuở, ban truyền lề luật, luật đó chẳng hề qua” (Tv 148, 5b-6). Vì thế, Thánh Kinh trưng ra cho con người nhiều luật lệ khác nhau, không những trong liên hệ với đồng loại, nhưng cả trong liên hệ với các sinh thể khác: “Khi anh (em) thấy lừa hay bò của người anh em mình ngã trên đường, thì đừng bỏ mặc làm ngơ, nhưng phải giúp người anh em đỡ chúng dậy…Nếu trên đường, anh (em) gặp một tổ chim, ở trên bất cứ cây nào hay ở dưới đất, trong đó có chim con hoặc trứng, và chim mẹ đang ủ chim con hay ấp trứng, thì anh (em) không được bắt cả mẹ lẫn con” (Đnl 22,4.6). Trong nhãn quan này, sự nghỉ ngơi trong ngày thứ bảy không phải chỉ dành cho con người, nhưng cho cả “bò lừa của ngươi được nghỉ ngơi” (Xh 23, 12). Với cách thức này, chúng ta nhận thấy Thánh Kinh không đưa ra duyên cớ tập trung vào chỉ con người, mà không lo lắng cho các tạo vật khác.

69. Trong khi được phép sử dụng các sự vật một cách có trách nhiệm, chúng ta cũng đồng thời được mời gọi để nhận biết, các sinh vật khác cũng có những giá trị trước mặt Thiên Chúa và “qua sự hiện hữu đơn sơ của mình đã ca tụng và tôn vinh” Người[41], “Chúa vui sướng vì các công trình của Người” (so Tv 104, 31). Chính nhờ vào phẩm giá độc nhất của mình và vì có được lý trí, con người được kêu gọi tôn trọng sáng tạo từ những luật lệ nội tại của chúng, vì “Thiên Chúa đã kiến tạo trái đất với sự khôn ngoan” (Kn 3,19). Ngày nay Giáo Hội không chỉ nói cách đơn sơ, các tạo vật khác hoàn toàn tùy thuộc vào hạnh phúc của con người, gần như chúng không có giá trị gì tự tại và chúng ta có thể sử dụng chúng theo sở thích của chúng ta. Vì thế các vị Giám Mục nước Đức đã dạy về các thụ tạo khác “người ta có thể nói về sự ưu tiên của hữu thể trước khi nói về sự hữu ích của chúng”[42]. Quyển Giáo Lý nói rất rõ một cách trực tiếp và nhấn mạnh về chủ nghĩa qui nhân (Anthropozentrismus – anthropocentrisme): “Mỗi tạo vật đều có sự thiện và toàn vẹn riêng của mình […] Các thụ tạo khác nhau phản ánh ngay trong sự hiện hữu riêng mình như Thiên Chúa muốn, mỗi thứ một cách, ánh quang của sự khôn ngoan vô tận và sự thiện hảo của Thiên Chúa. Chính vì thế, con người phải tôn trọng bản chất tự nhiên đặc thù của chúng để tránh sử dụng chúng một cách vô trật tự”[43].

70. Trong trình thuật về Cain và Abel, chúng ta thấy sự ganh tị của Cain dẫn đến việc đối xử quá bất công với chính em mình. Điều này đưa đến một sự đổ vỡ liên hệ giữa Cain và Thiên Chúa, giữa Cain và mãnh đất anh ta bị xua đuổi ra bên ngoài. Đoạn văn này được tóm kết trong cuộc đối thoại của Cain và Thiên Chúa. Thiên Chúa hỏi: “Em ngươi đâu?” Cain trả lời, “tôi không biết”, Thiên Chúa nhấn mạnh: “Ngươi đã làm gì vậy? Từ dưới đất, tiếng máu của em ngươi đang kêu lên Ta. Giờ đây ngươi bị nguyền rủa và bị đuổi ra khỏi đất màu mở” (St 4, 9-11). Sự chễnh mãn trong trách nhiệm canh tác và gìn giữ một liên hệ tương ứng với người chung quanh, tôi phải lo lắng cho người đó và phải che chở cho họ; sự chễnh mãn đó sẽ phá vỡ liên hệ nội tại với chính tôi, với kẻ khác, với Thiên Chúa và với đất đai. Khi các liên hệ này bị bỏ quên, khi không còn công bằng tồn tại trên đất nước, thì – như Thánh Kinh nói với chúng ta – toàn bộ cuộc sống sẽ gặp nguy hiểm. Đó là điều mà trình thuật về Noach muốn dạy chúng ta, khi Thiên Chúa hăm dọa, sẽ tiêu diệt nhân loại vì luôn bất lực trong việc thực thi những đòi buộc về công bằng và hòa bình: “Ta đã quyết định giờ tận số của mọi xác phàm, vì tại chúng mà đất đầy bạo lực” (St 6, 13). Trong biểu trưng xa xưa nhưng sâu sắc của trình thuật chứa đựng một xác tín cho ngày nay: tất cả đều liên kết với nhau và việc che chỡ đích thực cho cuộc sống riêng tư của chúng ta cũng như mọi liên hệ của chúng ta với thiên nhiên không thể bị tách ra khỏi tình huynh đệ, sự công bằng cũng như sự trung tín với kẻ khác.

71. Cho dù “sự gian ác của con người quả là nhiều” (St 6,5) và “Thiên Chúa hối hận vì đã làm ra con người trên mặt đất” (St 6,6), Người đã quyết định mở một con đường cứu độ nhờ Noach, người vẫn kiên vững trong sự công chính và hoàn hảo. Như thế, Người ban cho nhân loại khả năng đón nhận một khởi đầu mới: chỉ cần một người công chính là đủ, để hy vọng không bị chôn vùi. Trình thuật Thánh Kinh ghi lại rõ ràng, việc tái thiết gắn liền với việc tái khám phá và chú trọng đến các chu kỳ được chính bàn tay Thiên Chúa ghi khắc. Tỉ như luật ngày Sabbat. Vào ngày thứ bảy, Thiên Chúa ngưng tất cả mọi công trình của Người. Thiên Chúa ra lệnh cho Israel mỗi ngày thứ bảy phải là ngày nghỉ, là ngày Sabbat (x. St 2, 2-3; Xh 16, 23; 20, 10). Ngoài ra mỗi bảy năm phải là năm Sabbat cho Israel và cho cả đất đai (x. Lv 25, 1-4), trong năm đó người ta phải để cho đất đai hoàn toàn ngưng nghỉ; không đươc phép gieo cấy, chỉ thu hoạch những gì cần thiết để sống và dành cho việc tiếp khách (x. Lv 25, 4-6). Và cuối cùng, sau bảy tuần năm, nghĩa là sau bốn mươi chín năm, sẽ cử hành Năm Thánh, năm tha thứ tất cả và là năm “tự do cho toàn thể dân trong đất nước” (Lv 25,10). Việc triển khai lề luật này tìm cách bảo đảm cho sự bình đẳng và công bằng trong mọi liên lạc giữa người đồng loại và với đất đai, nơi họ sống và lao động. Đồng thời công nhận: quà tặng của đất đai, cũng như hoa trái của nó, thuộc về toàn dân. Ai canh tác và gìn giữ đất đai phải chia sẻ hoa màu, đặc biệt là cho người nghèo, các bà góa, trẻ mồ côi và khách lạ: “Khi các ngươi gặt lúa trong đất của các ngươi, (các) ngươi không đượ gặt tới sát bờ ruộng; lúa gặt sót, (các) ngươi không được mót. Vườn nho (các) ngươi, (các) ngươi không được hái lại, những trái rớt, (các) ngươi sẽ bỏ lại cho người nghèo và ngoại kiều. Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi” (Lv 19, 9-10).

72. Các Thánh Vịnh thường mời gọi con người ta tụng Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo., “Đấng trải mặt đất này trên làn nước bao la, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 136,6). Các Thánh vịnh cũng mời gọi mọi tạo vật khác ca tụng Thiên Chúa: “Ca tụng Chúa đi, này vầng ô bóng nguyệt, ca tụng Người, muôn tinh tú rạng soi. Ca tụng Chúa đi, hỡi cửu trùng cao vút, cả khối nước phía trên bầu trời. Nào ca tụng Thánh Danh Đức Chúa, vì Người ra lệnh, là hết thảy được tạo thành” (Tv 148, 3-5). Chúng ta hiện hữu không chỉ nhờ quyền năng Thiên Chúa, nhưng trước mặt Người và gần gủi Người. Vì thế chúng ta thờ lạy Người.

73. Tác phẩm của các ngôn sứ cũng mời gọi chúng ta, tìm được sức mạnh trong những giây phút gặp khó khăn, khi người ta chiêm ngắm Thiên Chúa toàn năng, Đấng tạo thành vũ trụ. Quyền lực vô biên của Thiên Chúa không đưa chúng ta trốn chạy trước tình phụ tử nhân ái của Người, vì trong Người việc chăm sóc từ ái và sức mạnh hòa quyện với nhau. Thật vậy, mỗi linh đạo thánh thiện cho thấy rõ cùng lúc đón nhận tình yêu của Thiên Chúa và tin tưởng thờ lạy Thiên Chúa vì quyền năng vô biên của Người. Trong Thánh Kinh, Thiên Chúa, Đấng giải thoát và cứu độ, cũng là Đấng sáng tạo vũ trụ, và hai cách hoạt động của Thiên Chúa liên kết với nhau thật chặt chẽ: “Lạy Đức Chúa, Chúa Thượng của con! này Ngài đã tạo thành trời đất bằng sức mạnh vĩ đại và cách tay uy quyền của Ngài. Không có gì mà Ngài không làm được! […], Ngài dã dùng dấu lạ điềm thiêng, đã giương bàn tay mạnh mẽ và cánh tay uy quyền… mà đưa dân Ngài là Israel ra khỏi Ai Cập” (Gr 32, 17.21). “Đức Chúa là Thiên Chúa vĩnh cửu, là Đấng sáng tạo toàn cõi đất. Người không mệt mỏi, chẳng nhọc nhằn, trí thông minh của Người không dò thấu. Người ban sức mạnh cho ai mệt mỏi, kẻ kiệt lực, Người làm cho nên cường tráng” (Is 40, 28b-29).

74. Kinh nghiệm cuộc lưu đày ở Babylon đưa đến cuộc khủng hoảng tinh thần mà chỉ có việc đào sâu niềm tin vào Thiên Chúa mới có thể giải quyết được, khi làm rõ nét quyền năng sáng tạo của Thiên Chúa để động viên dân chúng tìm lại hy vọng trong hoàn cảnh bi đát của họ. Nhiều thế kỷ sau, trong một thời đoạn thử thách và bị bách hại, khi đế quốc La Mã tìm cách thiết đặt sự thống trị tuyệt đối của họ, các tín hữu tìm lại được sự an ủi và hy vọng lớn dần trong sự tin tưởng vào Thiên Chúa quyền năng, và họ đã ca hát: “Lạy Chúa là Thiên Chúa Toàn Năng, sự nghiệp Ngài thật lớn lao kỳ diệu! Lạy Đức Vua trị vì muôn nước, đường lối Ngài quả chân thật công minh” (Kh 15,3). Nếu Thiên Chúa đã sáng tạo vũ trụ từ hư không, thì Người cũng có thể can thiệp vào thế giới này và chiến thắng sự dữ dưới mọi hình thức. Vì thế, sự bất công không thể nào là không thắng được.

75. Chúng ta không thể có một thứ linh đạo lại quên Thiên Chúa toàn năng và là Đấng sáng tạo. Nếu không, cuối cùng chúng ta cũng sẽ tôn thờ các quyền lực khác trong thế giới, hay chính chúng ta tự đặt mình vào vị trí của Chúa và cho rằng, chúng ta có thể đặt tất cả thực tại do Người sáng tạo dưới chân mình. Cách thức tốt đẹp để đưa con người vào vị trí của mình và chấm dứt việc đòi hỏi quyền làm chủ tuyệt đối trên trái đất này, chỉ bằng cách đưa ra hình ảnh của một người Cha, Đấng sáng tạo và chủ duy nhất của thế giới này. Nếu theo cách khác thì con người luôn có xu hướng đặt tất cả thực tại nằm dưới luật lệ và lợi ích của mình.

III. MẦU NHIỆM CỦA VŨ TRỤ

76. Đối với truyền thống Do Thái-Kitô giáo, nói về sáng tạo còn mang nhiều ý nghĩa hơn là nói về thiên nhiên, vì nó còn có một liên hệ với dự định tình yêu của Thiên Chúa, trong đó mỗi tạo vật đều có giá trị và ý nghĩa riêng của mình. Thiên nhiên thường được hiểu như một hệ thống, mà người ta có thể phân tách, tìm hiểu và can thiệp vào, thế nhưng sáng tạo phải được hiểu như một quà tặng đến từ bàn tay rộng mở của Người Cha mọi người, như thực tại được tình yêu chiếu sáng, mời gọi chúng ta bước vào một sự hiệp thông bao trùm tất cả.

77. “Các tầng trời được tạo dựng từ một lời của Thiên Chúa” (Tv 33,6). Câu này cho chúng ta thấy, thế giới xuất hiện do một quyết định chứ không từ sự lộn xộn hay hậu quả tình cờ, và điều này mang đến cho thế giới nhiều phẩm chất. Có một quyết định tự do, nằm trong lời sáng tạo. Vũ trụ không xuất phát từ hiệu quả của một quyền lực độc đoán, một sự tỏ lộ quyền lực hay ý muốn tự xác định mình. Sáng tạo nằm trong trật tự tình yêu. Tình yêu của Thiên Chúa là lý do nền tảng của toàn thể sáng tạo: “Quả thế, Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cứ loài nào Chúa đã làm ra, vì giả như Chúa ghét loài nào, thì đã chẳng dựng nên” (Kn 11, 24). Mỗi tạo vật đều là đối tượng lòng ưu ái của Cha, Đấng ban cho nó một vị trí trong thế giới. Ngay cả đời sống chóng qua của hữu thể không ý nghĩa gì cũng là đối tượng của tình yêu, và trong một ít thời gian hiện hữu nó cũng nhận được lòng ưu ái của Người. Thánh Basilius Cả nói, “Đấng Sáng Tạo là Tình Yêu vô bờ bến”[44], và Dante Alighieri nói về “tình yêu chuyển động mặt trời và các ngôi sao”[45]. Vì thế từ những công trình đã được tạo dựng, người ta hướng đến “lòng thương xót của Người tràn đầy tình yêu”[46].

78. Đồng thời, suy tư Do Thái-Kitô giáo cũng loại thiên nhiên ra khỏi huyền thoại. Dù không ngừng chiêm ngắm thiên nhiên vì sự huy hoàng và miên man của nó, nhưng tư tưởng trên đã không gán cho thiên nhiên một đặc tính thần thánh nào. Từ cách thức này, việc dấn thân của chúng ta với thiên nhiên lại còn được nhấn mạnh. Việc quay về với thiên nhiên không được diễn ra với cái giá phải trả là sự tự do và trách nhiệm của con người, vì con người cũng là một thành phần của thế giới với trách nhiệm canh tác theo khả năng của mình để che chỡ và phát triển những khả thể của nó. Nếu chúng ta biết được giá trị và sự mỏng manh của thiên nhiên và đồng thời những khả năng mà Đấng Tạo Hóa đã trao ban cho chúng, điều này cho phép chúng ta ngày nay chấm dứt với huyền thoại tân tiến về phát triển vật chất không giới hạn. Một thế giới dễ đổ vỡ với một con người mà Thiên Chúa đã trao cho việc chăm sóc, đòi hỏi lý trí của chúng ta nhận ra việc định hướng, canh tác và giới hạn quyền lực của chúng ta.

79. Trong vũ trụ này, được tạo lập do các hệ thống mở rộng để liên kết với nhau, chúng ta có thể khám phá ra không biết bao nhiêu hình thức liên hệ và chia sẻ. Điều này đưa chúng ta đến tư tưởng, toàn thể khai mở vì sự siêu vượt của Thiên Chúa, trong đó vũ trụ sẽ được triển khai. Niềm tin giúp chúng ta giải thích ý nghĩa và vẻ đẹp mầu nhiệm của những gì đang xuất hiện. Sự tự do của con người có thể đem đến một sự nâng đỡ khôn ngoan cho một sự phát triển tích cực, nhưng cũng có thể gây nên một điều xấu mới, những nguyên nhân của khổ đau và suy thoái đích thực. Điều này đã xuất hiện trong lịch sử căng thẳng và bi đát của loài người, có thể diễn ra trong việc phát triển sự tự do, trưởng thành, cứu độ và tình yêu hay trên một con đường suy thoái và hủy hoại lẫn nhau. Vì thế, trách nhiệm của Giáo Hội, không những nhắc nhớ đến trách nhiệm chăm sóc thiên nhiên, nhưng “nhất là bảo vệ con người tránh việc tự hủy hoại”[47].

80. Dù vậy, Thiên Chúa, Đấng luôn cộng tác với chúng ta và tin tưởng vào sự cộng tác của chúng ta, Người có thể rút vài điều tốt lành từ điều xấu chúng ta đã phạm, vì “Chúa Thánh Thần luôn có một sự tưởng tượng vô ngần, đặc thù cho tư tưởng của Thiên Chúa, Đấng biết giải quyết những khó khăn của số phận con người, ngay cả lúc khó khăn và không thể thâm nhập được”[48]. Người phải tự hạn hẹp chính mình khi sáng tạo ra một thế giới cần có sự phát triển, nơi nhiều sự vật mà chúng ta coi là xấu, nguy hiểm hay là nguồn khổ đau, trong thực tế chỉ là một phần của “sự chuyển dạ” thúc giục chúng ta cộng tác với Đấng Tạo Hóa[49]. Người hiện diện trong thâm sâu vạn vật, không tạo khó khăn cho sự độc lập của thụ tạo mà còn đem đến cho sự độc lập hợp lý của thụ tạo[50]. Sự hiện diện này của Thiên Chúa đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển mọi hữu thể, “đó chính là sự tiếp tục hành động sáng tạo của Người”[51]. Thần Khí Thiên Chúa bao trùm vũ trụ với quyền năng tác động, cho phép điều gì mới mẽ có thể xuất hiện.”Thiên nhiên không gì khác hơn lý trí của một nghệ thuật rõ ràng, cụ thể; nghệ thuật đó của Thiên Chúa ghi nét trong từng thụ tạo và nhờ đó mọi vật sẽ chuyển động đến cùng đích đã được xác định: cũng như người làm tàu sử dụng gỗ theo ý muốn của mình để định hình chiếc tàu”[52].

81. Cho dù con người giả thiết tiến trình phát triển, sẽ đưa ra một cái gì mới mà trong quá trình phát triển của các hệ thống khác không thể giải thích được. Mỗi người chúng ta đều có một căn cước cá nhân, có thể đối thoại với kẻ khác và với Thiên Chúa. Khả năng suy tư, lý luận, sáng tạo, chú giải và sáng tác nghệ thuật cũng như các khả năng khác, những khả năng hoàn toàn mới cho thấy tính đặc biệt, vượt trên lãnh vực thể lý và sinh học. Tính chất mới mẽ trong phẩm chất, cho thấy một hữu thể trong vũ trụ vật chất vượt trổi thành một nhân vị, cho thấy một hành động trực tiếp của Thiên Chúa đi trước, một tiếng gọi đặc biệt đưa vào cuộc sống và vào một liên hệ với một Đấng đối diện như một người đối diện (in die Beziehung eines Du zu einem anderen Du – à la relation d’un Tu avec un autre tu). Từ các trình thuật của Thánh Kinh, chúng ta nhận thấy con người là một chủ thể, không bao giờ bị đặt vào phạm trù đối tượng được.

82. Những suy nghĩ sẽ sai lầm, khi cho các hữu sinh khác như các đổi tượng, phải tùng phục quyền hành tùy tiện của con người. Khi con người nhìn thiên nhiên như là đối tượng lợi dụng, sẽ đưa đến những hệ lụy quan trọng cho xã hội. Cái nhìn tùy tiện của kẻ mạnh, sẽ tạo nên không biết bao nhiêu sự bất bình đẳng, không công bằng và bạo quyền trên phần đông loài người, vì những tài nguyên sẽ dần rơi vào tay những người nắm quyền hành: kẻ chiến thắng sẽ nắm lấy tất cả: lý tưởng về hòa hợp, công bằng, tình huynh đệ và hòa bình như Đức Giêsu đòi hỏi, sẽ nghịch lại với mẫu này; người nắm quyền sẽ bốc lột con người trong thời đại của mình: “Anh em biết: thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em” (Mt 20, 25-26).

83. Mục đích của chuyển động vũ trụ nằm trong sự phong phú của Thiên Chúa, đạt được qua Đấng Kitô phục sinh – điểm mấu chốt tiến trình trưởng thành của vũ trụ[53]. Chúng ta cũng đưa thêm một lý luận để phủ nhận quyền chuyên chế và vô trách của con người trên các thụ tạo khác. Mục đích cuối cùng của những tạo vật khác không phải là chúng ta. Nhưng chúng cùng đồng hành với chúng ta và qua chúng ta cùng tiến về một mục đích chung là chính Thiên Chúa, trong một sự tràn đầy siêu vượt, nơi Đấng Kitô phục sinh ôm lấy và chiếu sáng cho tất cả. Vì con người, dù được ban cho lý trí và tình yêu, cũng được lôi kéo vào sự phong phú của Đức Kitô, được kêu gọi để tất cả thụ tạo trở về với Đấng Sáng Tạo của mình.

IV. TIN MỪNG CỦA TỪNG THỤ TẠO TRONG SỰ HÒA HỢP VỚI TOÀN THỂ SÁNG TẠO

84. Khi nhấn mạnh con người là hình ảnh của Thiên Chúa, chúng ta không được quên rằng mỗi thụ tạo đều có một phận vụ và không có điều gì dư thừa. Toàn bộ vũ trụ vật chất là dấu chỉ tình thương của Thiên Chúa, sự âu yếm vô tận của Người đối với chúng ta. Đất đai, nguồn nước, núi non – tất cả đều là sự âu yếm của Thiên Chúa. Lịch sử tình thân với Thiên Chúa đều diễn ra trong một khoảng không gian địa lý, trở thành một dấu chứng hoàn toàn cá nhân và mỗi người trong chúng ta sẽ gìn giữ trong ký ức của mình các vị trí, mà khi nhớ lại sẽ đem đến những gì tốt đẹp. Ai đã lớn lên trong vùng núi, hay khi còn bé đã cố uống nước trong dòng suối, hay ai đã chơi trong một khu giữa thành phố, khi trở về chốn cũ, sẽ tìm lại được căn tính của mình.

85. Thiên Chúa đã viết quyển sách quí giá, mà “những dòng chữ được trình bày bằng những tạo vật trong vũ trụ”[54]. Các Giám Mục Canada đã phát biểu thật đúng đắn, không có thụ tạo nào lại không có những phát biểu tự nơi mình về Thiên Chúa: “Từ cái nhìn toàn cảnh rộng lớn cho đến một hình thức sống nhỏ bé nhất, thiên nhiên vẫn luôn là nguồn để con người kinh ngạc và thán phục. Thiên nhiên vẫn là mạc khải tiếp nối về thiên tính”[55]. Các Giám Mục nước Nhật cũng phát biểu những tư tưởng rất gợi cảm: “Thật vậy, mỗi thụ tạo sẽ hát lên bài thánh ca về sự hiện hữu của chúng, sẽ giúp chúng ta vui sống trong tình yêu Thiên Chúa và hy vọng”[56]. Việc chiêm ngắm thiên nhiên sẽ giúp chúng ta khám phá qua mỗi vật một lời giảng dạy mà Thiên Chúa muốn trao cho chúng ta, vì “việc chiêm ngắm sáng tạo đối với các tín hữu cũng có nghĩa là lắng nghe một Tin vui, một tiếng nói nghịch lý và thinh lặng”[57]. Vì thế chúng ta có thể nói: “Cận kề các mạc khải đích thực chứa đựng trong Thánh Kinh, vẫn có một biểu lộ thần linh trong mặt trời chiếu sáng cũng như lúc chiều rơi”[58]. Khi con người chú tâm đến biểu lộ này, sẽ học được cách nhận ra chính mình trong liên hệ với các thụ tạo khác: “Ta diển tả chính Ta khi đem thế giới đến như dấu ấn; Ta sẽ biểu dương thiên tính của Ta khi khai mở thiên tính của vũ trụ”[59].

86. Toàn thể vũ trụ với những liên hệ đa dạng của nó, cho thấy sự phong phú của Thiên Chúa một cách tốt đẹp nhất. Thánh Tôma thành Aquinô với sự khôn ngoan của mình, cho thấy rằng sự phong phú và đa dạng đều “xuất phát từ ý định của Tác Nhân tiên khởi, Đấng muốn rắng “điều gì thiếu sót nơi thụ tạo để trình bày sự nhân từ thần linh, sẽ được bổ túc bằng thụ tạo khác”[60]. Chỉ vì sự tốt lành của Người “không thể do một thụ tạo có thể trình bày cách đầy đủ được”[61]. Vì thế, chúng ta phải nắm vững sự khác biệt của các thụ tạo trong liên hệ đa dạng của chúng”[62]. Người ta có thể hiểu sự quan trọng và ý nghĩa của từng thụ tạo tốt hơn, khi nhìn vào toàn thể trong chương trình của Thiên Chúa. Sách Giáo lý dạy: “Sự liên hệ lẫn nhau của các thụ tạo là do ý muốn của Thiên Chúa. Mặt trời và mặt trăng, cây sến và bông hoa ngoài đồng, phượng hoàng và chim se sẻ – cảnh thiên hình vạn trạng và không đồng đều nói lên rằng không thụ tạo nào được đầy đủ nơi bản thân mình, chúng chỉ hiện hữu trong sự lệ thuộc lẫn nhau, để bổ túc cho nhau trong việc phục vụ lẫn nhau”[63].

87. Nếu chúng ta ý thức, tất cả những gì hiện hữu đều phản ánh Thiên Chúa, chúng ta sẽ thay cho tất cả thụ tạo và cùng với chúng tôn thờ Thiên Chúa, điều này được nổi bật trong bài thánh ca tuyệt vời của thánh Phanxicô thành Assisi:

Ngợi khen Chúa, lạy Chúa tôi, với muôn loài thọ tạo, đặc biệt nhất Ông Anh Mặt Trời, Anh là ánh sáng ban ngày, nhờ Anh, Ngài soi chiếu chúng tôi, Anh đẹp và tỏa ánh rạng ngời, Anh tượng trưng Ngài, lạy Đấng Tối Cao. Ngợi khen Chúa, lạy Chúa tôi, vì Chị Trăng và muôn Sao Chúa dựng trên nền trời: lung linh, cao quí và diễm lệ. Ngợi khen Chúa, lạy Chúa tôi, vì Anh Gió, Không khí và Mây trời, cảnh thanh quang và bát tiết tứ thời nhờ Anh, Chúa bảo tồn muôn vật. Ngợi khen Chúa, lạy Chúa tôi, vì Chị Nước, thật lợi ích và khiêm nhu, quí hóa và trinh trong. Ngợi khen Chúa, lạy Chúa tôi, vì Anh Lửa, nhờ Anh, Chúa sáng soi đêm, Anh đẹp và vui tươi, oai hùng và mạnh mẽ (trích trong ofmvn.org)[64]

88. Các Giám Mục Brasil nhấn mạnh, toàn thể vạn vật không những tuyên xưng Thiên Chúa, nhưng cũng là nơi nói lên sự hiện diện của Người. Trong mỗi thụ tạo chứa chất Thần Khí sống động của Người, Đấng giúp chúng ta liên kết với Người[65]. Việc khám phá sự hiện diện này động viên chúng ta phát triển “những nhân đức thuộc môi sinh” (õkologischen Tugenden – vertus écologiques”[66]. Khi nói lên điều này, chúng ta đừng quên có một khoảng cách vô hạn giữa thiên nhiên và Đấng tạo hóa, và vạn vật không thể nào chứa đựng hết sự sung mãn của Thiên Chúa. Mặt khác, chúng ta không làm gì tốt đẹp cho thụ tạo, vì chúng ta không nhận ra vị trí đặc thù và đích thực của chúng và cuối cùng cũng là bất công khi mong chờ những gì mà trong sự nhỏ nhoi của chúng có thể đem lại cho chúng ta.

V. MỘT CỘNG ĐỒNG TOÀN CẦU

89. Các thụ tạo trong thế giới này không thể nào được xem như một điều thiện hảo mà không có chủ: “Lạy Chúa, tất cả đều là gia tài của Ngài, Ngài là niềm vui của cuộc đời” (so Kn 11,26). Từ đó, đưa đến xác tín tất cả thụ tạo trong vũ trụ đều do một Cha sáng tạo, nên đã liên kết với nhau bằng một liên hệ vô hình và chúng ta, một cách nào đó. cùng với các thụ tạo thành một gia đình, một cộng đoàn cao thượng thúc đẳy chúng ta đi đến một sự tôn trọng mang sắc thái linh thiêng, yêu thương và khiêm tốn. Tôi muốn nhắc rằng: “Thiên Chúa nối kết chúng ta thật mật thiết với thế giới quanh ta, đến độ việc hoang hóa mặt đất thì cũng như một bênh tật đối với từng người, và chúng ta […] phải khóc than trước việc thất thoát một loài, như thể một việc chia cắt thân thể”[67].

90. Điều này không có nghĩa là, mọi thứ hữu sinh đều như nhau và có một giá trị đặc biệt đối với con người, đòi buộc con người phải chịu trách nhiệm lớn lao. Điều này cũng giảm bớt việc thần hóa trái đất, giảm bớt mệnh lệnh cùng lao động với chúng và bảo vệ sự mong manh của chúng. Những quan niệm này cuối cùng tạo ra những liên hệ lệch lạc mới để thoát khỏi thực tế đang mời gọi chúng ta[68]. Đôi khi người ta nhận ra một định kiến phủ nhận quyền uy tiên của con người, và đưa đến một cuộc tranh chấp với các loài khác mà chúng ta không dấn thân để bảo vệ phẩm giá ngang tầm giữa con người. Thật vậy, chúng ta phải lo lắng để các hữu sinh khác không bị đối xử một cách vô trách nhiệm. Nhưng những sự bất bình đẳng lớn lao hiện diện giữa chúng ta làm chúng ta phẩn nộ, nếu như chúng ta cứ để cho một số người cho mình có phẩm giá cao hơn các kẻ khác. Chúng ta sẽ không còn nhìn thấy, một số người chết gí trong sự nghèo khổ, không có khả năng để thoát ra, trong khi những kẻ khác không biết làm gì với của cải của mình, kiêu hảnh vì vị trí trên trước của mình, để lại đàng sau lưng một lượng phung phí không đếm xuể, có thể tàn phá cả hành tinh này. Chúng ta tiếp tục chấp nhận thực hành, như một số cảm thấy mình nhiều nhân bản hơn những kẻ khác, làm như họ được sinh ra với những quyền lợi lớn lao.

91. Cảm nghiệm về một sự liên kết mật thiết với những hữu thể khác trong thiên nhiên sẽ không đích thực, nếu như đồng thời trong thâm tâm của chúng ta không có sự trìu mến, cảm thông và một sự lo lắng cho con người. Sự rời rạc của người chiến đấu chống lại sự tiêu diệt các con thú bị hăm dọa, nhưng vẫn dửng dưng trước hành động của con người, không chú ý đến kẻ nghèo hay tìm cách triệt hạ một người mà họ không thích, sự rời rạc này sẽ bộc lộ rõ ràng. Điều này sẽ làm ý nghĩa của sự chiến đấu cho môi trường gặp nguy hiểm. Không phải tình cờ mà thánh Phanxicô đã ca tụng Thiên Chúa trong bài thánh ca của mình vì các tạo vật; ngài đã thêm vào: “Chúc tụng Chúa, Thiên Chúa của con, vì những ai tha thứ vì tình yêu của Ngài”. Tất cả đều liên kết với nhau. Vì thế một sự chăm sóc môi trường đòi buộc một tình yêu chân thành đối với con người và một sự dấn thân kiên vững đối với những vấn đề xã hội.

92. Mặt khác, khi trái tim đích thực mở ra cho cả cộng đoàn toàn cầu, sẽ không có gì và cũng không có ai bị loại ra khỏi tình huynh đệ. Vì thế, sự dửng dưng hay độc ác đối với các tạo vật khác trong thế giới, cuối cùng rồi cũng theo cách đó chúng ta sẽ đối xử với những người khác. Trái tim chỉ có một, và cùng sự đau xót khi chúng ta hành hạ một con vật, thì cũng sẽ bộc lộ trong cách đối xử của chúng ta với những người khác. Mọi thứ độc ác đối với bất cứ thụ tạo nào “đều nghịch lại với phẩm giá con người”[69]. Chúng ta đừng cho chúng ta yêu nhiều, nếu chúng ta vì lợi ích của chúng ta đã loại một phần nào thực tại. “Bình an, công bằng và bảo quản sáng tạo là ba đề tài tuyệt đối liên kết với nhau, không thể tách biệt và nếu chỉ trình bày từng phần có thể lại rơi vào chủ thuyết đúc kết mới (Reduktionismus)[70]. Tất cả đều liên kết với nhau, và tất cả mọi người đều là anh em, chị em với nhau trong một cuộc hành trình tuyệt dịu, được tình yêu của Thiên Chúa nối kết vào nhau, tình yêu mà Thiên Chúa đem đến cho từng thụ tạo và nối kết chúng ta trong một tình yêu dịu dàng với “anh mặt trời”, “chị mặt trăng”, chị sông suối và bà mẹ trái đất.

VI. VIỆC XÁC ĐỊNH CHUNG CÁC CỦA CẢI

93. Ngày hôm nay, người tin cũng như kẻ không tin đều nhất trí cho rằng trái đất tất yếu là gia sản chung, hoa lợi của trái đất phải dành cho mọi người. Đối với người tín hữu điều này trở thành câu hỏi về sự trung tín đối với Đấng Sáng Tạo, chỉ vì Thiên Chúa đã tạo dựng thế giới này cho tất cả mọi người. Vì thế, tất cả mọi sự tiếp cận về môi trường phải được hội nhập vào viễn cảnh xã hội, viễn cảnh này phải chú ý đến quyền lợi căn bản của những người thật bất lợi. Nguyên tắc lệ thuộc của tài sản cá nhân dựa vào xác định chung về tài sản và từ đó luật lệ toàn cầu về việc sử dụng là “luật vàng” cho sự liên hệ xã hội và là “nguyên tắc đầu tiên cho trật tự toàn xã hội”[71]. Truyền thống Kitô giáo không bao giờ công nhận quyền tài sản cá nhân là tuyệt đối và không thể đụng chạm tới và phận vụ xã hội nhấn mạnh đến mọi hình thức của tài sản cá nhân. Thánh Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II đã nhắc nhớ một cách mạnh mẽ giáo lý này khi xác định rằng: “Thiên Chúa đã tặng cho toàn thể nhân loại trái đất này để trái đất có thể nuôi sống tất cả, không loại trừ ai và cũng không ưu tiên cho ai[72]. Đó là những lời có nội dung thật cô động và mạnh mẽ. Ngài nhấn mạnh “một mẫu phát triển mà không tôn trọng và động viên quyền con người, cá nhân và xã hội, kinh tế và chính trị, bao gồm các quyền của các quốc gia và dân tộc, sẽ không xứng đáng với con người”[73]. Một cách rõ ràng hơn, Ngài giải thích rằng: “Chắc chắn, Giáo hội bảo vệ quyền tư hữu, nhưng cũng dạy rõ ràng rằng, mỗi tài sản cá nhân phải dựa vào “một giả thuyết xã hội”, để có thể phục vụ cho xác định chung mà Thiên Chúa muốn ban cho họ”[74]. Và Ngài nhấn mạnh: “Đây không phải là ý muốn của Thiên Chúa để quản lý quà tặng này theo cách chỉ làm lợi cho một số người”[75]. Điều này sẽ đặt ra câu hỏi về những thói quen bất công của một số người trên thế giới[76].

94. Người giàu cũng như người nghèo đều có cùng một phẩm giá,vì “Chúa đã dựng nên tất cả” (Cn 22,2), “Người đã dựng nên lớn cũng như nhỏ” (Kn 6,7) và “đã để mặt trời chiếu soi trên người lành cũng như kẻ dữ” (Mt 5,45). Hệ quả thực tiển theo như lời của các vị Giám Mục Paraguay trình bày: “Mọi người nông dân đều có quyền tự nhiên một mãnh đất hợp lý, nơi anh ta có thể dựng nơi trú ngụ, làm việc để nuôi sống gia đình và có thể bảo đảm được cuộc sống của mình. Quyền lợi này phải được bảo đảm, để không thể trở thành ảo tưởng, nhưng được áp dụng cụ thể. Điều này có nghĩa là, người nông dân ngoài chứng chỉ sở hữu, còn phải có được các phương tiện như học kỹ thuật, tín dụng, bảo hiểm và thương phẩm”[77].

95. Môi trường là điều thiện hảo chung, gia tài của toàn thể nhân loại và một trách nhiệm chung cho mọi người. Nếu một người chiếm hữu một điều gì đó, thì phải quản lý vì ích lợi cho mọi người. Nếu không làm như thế, chúng ta sẽ làm khổ lương tâm của chúng ta vì phủ nhận sự hiện sinh của những người khác. Vì thế, các vị Giám Mục của Tân Tây Lan tự hỏi giới luật “chớ giết người” có nghĩa gì, khi “hai mươi phần trăm dân số địa cầu sử dụng các tài nguyên với một mức độ phải cướp đi từ những nước nghèo và cả những thế hệ tương lai, những gì cần thiết để tồn tại”[78].

VII. CÁI NHÌN CỦA ĐỨC GIÊSU

96. Đức Giêsu lấy lại niềm tin Thánh Kinh về Thiên Chúa Sáng Tạo và nhấn mạnh điều căn bản: Thiên Chúa là Cha (so Mt 11, 25). Khi đối thoại với các môn đệ, Đức Giêsu mời gọi họ nhận thực liên hệ phụ tử mà Người đã ban cho tất cả thụ tạo, và nhắc nhớ họ với một sự âu yếm thật cảm động, mỗi thụ tạo rất quan trọng trong mắt Người: “Năm con chim sẻ chỉ bán được hai hào, phải không? Thế mà không một con nào bị bỏ quên trước mặt Thiên Chúa” (Lc 12, 6). “Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không tích thu vào kho; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng” (Mt 6, 26).

97. Chúa cũng có thể kêu mời những kẻ khác chăm sóc vẻ đẹp trong thế giới, chỉ vì Người luôn liên hệ với thiên nhiên và luôn chú tâm với một tình yêu và sự kinh ngạc. Khi Người đi qua một mãnh đất, Người dừng lại để chiêm ngắm vẻ đẹp mà Cha Người ra tung rải khắp nơi, và mời các môn đệ nhận ra sứ điệp của Thiên Chúa trong vạn vật: “Ngước mắt lên mà xem, đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái” (Ga 4,35). “Nước Trời cũng giống như chuyện hạt cải người nọ lấy gieo trong ruộng mình. Tuy nó là loài nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống, nhưng khi lớn lên, thì lại là thứ lớn nhất; nó trở thành một cây.” (Mt 13, 31-32).

98. Đức Giêsu sống hòa hợp trọn vẹn với sáng tạo, và mọi kẻ khác đều ngạc nhiên: “Ông này là người thế nào mà cả gió và biển cũng tuân lệnh?” (Mt 8,27). Người không xuất hiện như một ẩn tu xa lìa thế giới hay thù ghét những gì thích hợp cho cuộc sống. Người nói về chính mình: “Con Người đến, cũng ăn cũng uống như ai, thì thiên hạ lại bảo: “Đây là tay ăn nhậu” (Mt 11, 19). Người tách khỏi các triết thuyết khinh rẽ thân xác, vật chất và mọi thứ ở trần gian. Dù vậy, các thuyết Nhị Nguyên vô bổ trong dòng lịch sử đã ảnh hưởng nhiều trên một số nhà tư tưởng Kitô giáo và làm lệch lạc Tin Mừng. Đức Giêsu đã lao động với đôi bàn tay, va chạm trực tiếp hằng ngày với vật chất được Thiên Chúa tạo thành, để với tay nghề của mình tạo dáng cho chúng. Thật đáng kinh ngạc, phần lớn cuộc đời Người đã dành cho nghề nghiệp này trong một cuộc sống đơn sơ, không có chi gây kinh ngạc: “Đây không phải là anh thợ mộc, con bà Maria sao?” (Mc 6,3). Và như thế, Người đã thánh hiến lao động và trao cho chúng một giá trị đặc biệt cho việc trưởng thành của chúng ta. Thánh Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II dạy: “Ngay khi con người mang lấy gánh nặng của lao động trong sự hiệp nhất với Chúa bị đóng đinh, thì một cách nào đó con người, theo cách của mình, cộng tác với Con Thiên Chúa vào việc cứu độ nhân loại”[79].

99. Theo cách hiểu về thực tại của suy tư Kitô giáo, sự xác định toàn thể sáng tạo đã được hiện diện trong mầu nhiệm Chúa Kitô, ngay từ thuở ban đầu: “Tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người” (Cl 1,16)[80]. Tiền đề của Phúc Âm thánh Gioan (1,1-18) cho thấy hành động sáng tạo của Đức Kitô như Lời của Thiên Chúa (Logos). Thế nhưng tiền đề này gây kinh ngạc khi xác nhận rằng Lời “đã hóa thành xác thể” (Ga 1,14). Một Ngôi Vị của Ba Ngôi Thiên Chúa tự hội nhập vào vũ trụ được tạo thành và đã liên kết với tạo thành cho đến thập giá. Từ khởi đầu thế giới, nhưng với một cách thức đặc biệt từ mầu nhiệm Nhập Thể, mầu nhiệm Chúa Kitô thực hiện một cách bí mật trong toàn thể thực tại, mà không ảnh hưởng gì đến sự độc lập của chúng.

100. Tân Ước không những nói với chúng ta về Đức Giêsu lịch sử với sự liên lạc cụ thể và ưu ái với thế giới; nhưng còn cho thấy Người như Đấng Phục sinh đầy vinh quang hiện diện với vương quyền tròn đầy trên toàn thể sáng tạo: “Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hòa giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (x. Cl 1,19-20). Điều này đưa chúng ta vào cuối thời gian, khi Chúa Con trao trả lại mọi sự cho Chúa Cha và “như vậy, Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài” (x. Cr 15, 28). Theo cách thức này, mọi tạo vật trên trần gian xuất hiện trước mặt chúng ta không phải như những thực tại tự nhiên, nhưng Đấng Phục Sinh ôm lấy chúng và hướng chúng đến một định mệnh tròn đầy. Cũng như cánh hoa ngoài đồng và các chim chóc, được nhìn với con mắt đầy kinh ngạc, thì bây giờ lại được tràn đầy sự hiện diện sáng chói của Người.

(còn tiếp)

Nguồn: http://lamhong.org


[1] Thánh Phanxicô Assisi, Bài ca tạo vật SC 285, tr 343-345

[2] Tông Huấn Octogesima advediens (14.5.1971) số 21: AAS 63 (1971), 416-417

[3] Diễn từ vào dịp 25 năm FAO (16.11.1970) số 4: AAS 62 (1970, 833.

[4] Thông điệp Redemptori hominis (4.3.1979, số 15 AAS 71 (1979, 287

[5] Giáo lý (7.1.2001) số 4

[6] Thông điệp Centesimus annus (1.5.1991) số 38: AAS 83 (1991), 841

[7] id, số 58: trang 863

[8] Gioan Phaolô II, Tông Huấn Sollucitude rei socialis (30.12.1987), số 34: AAS 80 (1988) 559

[9] Tông Huấn Centesimus annus, số 37

[10] Diễn từ cộng đoàn ngoại giao (8.1.2007) AAS 99 (2007) số 73

[11] Thông điệp Caritas in veritate (29.6. 2009) số 51: AAS 101 (2009), 687

[12] Diễn từ Ngày quốc Khánh Đức (22.9.2011): AAS 103 (2011) 664

[13] Diễn từ cho hàng giáo sĩ Bolzano-Bressanone (6.8.2008) AAS 100 (2008) 634

[14] Sứ điệp ngày bảo vệ thiên nhiên (1.9 2012)

[15] Diễn từ tại Santa Barbara, California (8.11.1997)

[16] Id

[17] Hội nghị viện tu Norvège (23.6.2003)

[18] Diễn từ ngày I Mommet dee Halki, Istanbul (20.6.2012)

[19] Thomas de Celano, Vita prima de saint Francois, XXIX, 81

[20] Legende Maior VII, 6

[21] Thomas de Celano, Vita Secunde de saint Francois XXIX, 81

[22] Hội nghị Giám Mục Phi Châu (5. 9. 1999)

[23] FAO (20. 11.2014) AAS 106 (2014) 985

[24] Dopcument Aparecida (29.6.1988)

[25] Hội đồng Giám Mục Philippine (29.1.1988)

[26] Hội Đồng Giám Mục Bolivia (2012)

[27] Hội đồng Giám Mục Đức (9. 2006)

[28] Compemdium de la Doctrina Sociale de l’Église. Số 483

[29] Giáo lý (5.6.20113) Insegnamenti 1/1 (2013)

[30] Giám Mục Patagonie-Cornahue (Argentina) 12.2009)

[31] Hội đồng Giám Mục Mỹ (15.6.2001)

[32] Hội đồng Giám Mục vùng Caribê: Document d’Aparecida (29.6.2007)

[33] Tông Huấn Evangelii gaudium (24.11.2013) số 56

[34] Gioan-Phaolô II Sứ điệp ngày Hoà Bình 1990, số 12

[35] Giáo lý (17.1.2001)

[36] Gioan Phaolô II Sứ điẹp Hòa bình 1990

[37] GLTC, số 357

[38] Angelus tại Osnabrũck (18.10.1980)

[39] Bênêdictô XVI bài giảnng ngày 24.4.2005

[40] Lagenda Maior, VIII,1

[41] GLTC, số 2416

[42] Hội đồng Giám mục Đức: Zukumft der Schõfung (1980)

[43] GLTC, số 339

[44] Hom. In Hexaermeron, 1,2, 10: 29,9

[45] La Divine Comédie, Paradis, Chant XXXIII, 145

[46] Bênêdictô XVI, Giáo lý (9.11.2005)

[47] Thông Điệp Caritas in veritate (29.6.2009) số 51

[48] Gioan Phaolô II Giáo lý (24.4.1991)

[49] GLTC, số 310

[50] Gaudium et Spes, số 36

[51] Tôma Aquinô, Somme théologique I, q. 104, art 1, ad 4

[52] In octo libros Physicorum Aristitelis expositio, lib II, lectio 14

[53] Teilhard de Chardin

[54] Gioan-Phaolô II Giáo lý (30.1.2002)

[55] Hội đồng Giám Mục Canada (4.10.2003)

[56] Hội đồng Giám Mục Nhật (1.2001)

[57] Gioan_phaolô II Giáo Lý (26.1.2000)

[58] Id, giáo lý (2.8.2000)

[59] Paul Ricoeur: Philosophie de la volonté. Paris 2009. trang 216

[60] Somme theologique I, q. 47, art 1.

[61] Id

[62] Id art, 2, ad 1; art 3

[63] GLTC, số 340

[64] Bài ca tạo vật SC 285, trang 343

[65] Hội đồng Giám Mục Brasil, 1992

[66] Id

[67] Tông Huấn Evangelii gaudiumsố 215

[68] Bênedictô XVI Cariats in veritatesố 14

[69] GLTC, số 2418

[70] Hội đồng Giám mục Dominicaine (21.1, 1987)

[71] Gioan-Phaolô II, Tông HuấnLaborem exercens (14.9.1981) số 19

[72] Tông Huấn Centesimus annus (1.5.1991)

[73] Tông Huấn Sollicitudo rei socialis (30.12. 1987) số 33

[74] Diễn từ tại Mexicô (29.1.1979)

[75] Diễn từ tại Brasil (7.7.1980)

[76] Sứ điệp Hòa bình 1990, số 8

[77] Hội đồng Giám mục Paraguay (12.6.1983)

[78] Hội đồng Giám mục Tân Tây Lan (1.9.2006)

[79] Tông Huấn Laborem exercens (14.9.1981) số 27)

[80] Thánh Gustinô, Apologia 8, 1-2

Tin mới hơn
Tin cũ hơn