Học viện thánh thể
 
Học viện thánh thể


LỊCH CG
Thống kê truy cập
Online: 106
Lượt truy cập: 1190324
Bộ Giáo Luật
QUYỂN I

NHỮNG QUI TẮC TỔNG QUÁT

 

 

 

 

QUYỂN I

 

 

NHỮNG QUI TẮC TỔNG QUÁT

Điều 1 :

Các điều của Bộ luật này chỉ chi phối Giáo Hội  La Tinh mà thôi.

Điều 2:

Nói chung, Bộ luật này không ấn định những nghi thức phải tuân giữ trong các buổi phải thi hành phụng vụ ,cho nên vẫn buộc phải tuân giữ những luật phụng vụ hiện đang còn hiệu lực, trừ khi có luật nào trong những luật đó trái ngược với các điều  của Bộ Luật này

Điều 3 :

Các điều của Bộ Luật này không bãi bỏ và không sữa đổi  các hiệp ước mà Tông Toà đã ký với các quốc gia hoặc xã hội chính trị khác ; do đó , các hiệp ước này vẫn có hiệu lực y như bây giờ, bất kể các quy định trái ngược của Bộ Luật này.

Điều 4:

Những quyền lợi thủ đắc cũng như những đặc ân do Tông Toà ban cho  các thể nhân trước tới nay  đang còn hiệu lực  và không bị thu hồi , thì vẫn còn giá trị , nếu không bị các điều của Bộ Luật này thu hồi cách minh nhiên.

Điều 5:

#1.Các tục lệ phổ quát hay các tục lệ địa phương hiện đang còn hiệu lực mà lại trái ngược với những quy định của các điều nầy, và bị chính các điều của Bộ Luật này bác bỏ , thì bị huỷ bỏ hoàn toàn và không được phép phục hồi lại :các tục lệ trái ngược khác  cũng được coi là bị huỷ bỏ , trừ khi Bộ Luật đã minh nhiên  dự liệu cách khác, tuy nhiên , các tục lệ đã có từ trăm năm hay từ lâu đời có thể được  châm chước nếu , theo  sự phán đoán của Đấng Bản Quyền sau khi đã xem xét những hoàn cảnh địa phương và con người , không thể huỷ bỏ .

#2.Các tục lệ phổ quát hay các tục lệ địa  phương ngoại luật hiện đang còn hiệu lực, thì được duy trì.

Điều 6

#1.Từ khi có hiệu lực. Bộ Luật này bãi bỏ:

1bộ  Giáo Luật ban hành năm 1917

20 những luật phổ quát hoặc những luật địa phương khác ngược với các quy định  của Bộ Luật nầy, trừ khi có một quy định minh nhiên khác liên quan đến những luật địa phương:

30 tất cả mọi luật hình sự phổ quát hay luật hình sự địa phương  do Tông Toà ban hành , trừ những luật được Bộ Luật này giữ lại :

40những luật phổ quát khác về Kỷ luật có liên quan đến một vấn đề đã được Bộ Luật này cải tổ hoàn toàn.

#2.Cũng phải dựa vào truyền thống của giáo luật để giải thích  những điều của Bộ Luật này trong mức độ những điều này lập lại luật cũ.

ĐỀ MỤC 1

 

 

 

LUẬT GIÁO HỘI

Điều 7:

Luật được thiết lập khi được ban hành

Điều 8

#1.Những luật phổ quát của Giáo hội được ban hành bằng việc công  bố trên báo Acta Apostolicae Sedis, trừ khi có một hình thức ban hành khác được quy định cho những trường hợp đặc thù , và những luật này chỉ có hiệu lực sau ba tháng, kể từ ngày được ghi trong số báo Acta , trừ khi những luật này buộc tức khắc do bản chất của sự việc, hay chính luật  đã minh nhiên ấn định  cách đặc biệt một thời hạn ngắn hơn hay dài hơn.

#2.Những luật địa phương  được công bố theo thể thức do nhà lập pháp xác định và bắt đầu  buộc sau một tháng , kể từ ngày  được ban hành , nếu chính luật đó không ấn định một thời gian nào cả.

Điều 9

Các luật nhằm tương lai , chứ không nhằm quá khứ , trừ khi luật đã dự liệu đích danh về những việc quá khứ

Điều 10

Chỉ những luật nào minh nhiên ấn định rằng một hành vi không có hiệu lực hoặc một người không có khả năng, thì mới được xem là luật bãi hiệu  hoặc luật  bãi  năng.

Điều 11

Những người đã được rửa tội trong Giáo Hội Công Giáohay những người đã được nhận vào Giáo Hội Công giáo và là những người đã  sử dụng đủ trí  khôn và , nếu luật không  minh nhiên dự liệu cách ,đã được  bảy tuổi trọn , buộc phải giữ những  luật túy của Giáo Hội .

Điều 12

#1. Những luật phổ quát buộc tất cả những người mà luật nhằm đến  trong bất cứ lãnh thổ nào.

#2.Tuy nhiên , tất cả những người hiện đang cư ngụ trong một lãnh thổ mà các luật phổ quát không có hiệu lực, thì không buộc phải  giữ những luật đó .

#3 .Các luật đựợc thiết lập cho một lãnh thổ đặc  thù thì buộc những người  mà luật nhắm đến, và là những người  có cư sở hay bán cư sở  đồnh thời hiện đang cư ngụ ở đó, miễn là vẫn giữ nguyên  những quy định của điều 13.

Điều 13

#1.Các luật địa phương  không dược suy đoán là luật tòng nhânnhưng là luật tòng thổ , trừ khi  đã rỏ cách khác

#2.Các lữ khách không buộc phải giữ

10những luật địa phương của lãnh thổ họ , bao lâu họ còn vắng mặt , trừ khi việc vi phạm luật ấy gây  thiệt hại  cho lãnh thổ họ, hoặc vì những luật  ấy là luật tòng nhân

20các luật của lãnh thổ mà họ đang cư ngụ , ngoại trừ những luật về trật tự  công cộng , hoặc những luật xác định  những thể thức của hành vi pháp lý , hoặc những luật liên can  đến bất dộng sản  lãnh thổ đó

#3. Những người không có cư sở buộc phải tuân giữ cả những luật phổ quát và những luật địa phương hiện đang có hiệu lực  tại nơi họ cư ngụ.

Điều 14

Trong những trường hợp hồ nghi về pháp luật , luật không buộc , kẻ cả những luật bãi hiệu  hay bãi năng; trong trường hợp hồ nghi  về sự kiện  , thì các Đấng Bản Quyền có chuẩn những luật đó , với điều kiện, nếu là một sự miễn chuẩn được dành riêng , nhà chức trách chuẩn ngăn trở  dành riêng vẫn  thường ban phép chuẩn nầy

Điều 15

#1.Sự không biết hay sự nhằm lẫn  về những luật bãi hiệu  hay bãi năng không  làm cho những luật này  mất hiệu luật , trừ khi luật đã minh nhiên ấn định cách khác.

#2. Sự không biết hay sự nhằm lẫn  về luật hoặc về hình phạt , về sự kiện của riêng mình  hoặc về sự kiện hiển nhiên  của người khác, đều không được suy đoán  ; sự không biết hay sự nhằm lẫn về sự kiện không hiển nhiên của người khác thì được suy đoán  cho đến khi có  chứng cớ ngược lại.

Điều 16

#1. Người  giải thích luật cách chính thức là nhà lập pháp , cũng như người được vị này uỷ quyền giái thích luật cách chính thức.

#2. Sự giải thích  chính  thức được thực hiện  theo thể  thức luật, thì có cùng hiệu lực như chính luật và phải được ban hành ; nếu chỉ tuyên bố là ý nghĩa ngôn từ của luật tự nó đã chính xác rồi, thì  sự giải thích chính thức  có hiệu lực hồi tố ;nếu giới hạn hay nới rộng  luật hoặc vạch rõ một luật hồ nghi , thì sự giải  thích chính thức  không có hiệu lực hồi tố .

#3. Tuy nhiên, sự  giải thích theo  thể thức  của một bản án tại toà hat theo thể thức của một văn kiện hành chính trong một vấn đề riêng biệt , thì không có hiệu lực  pháp lý , và sự giải thích này  chỉ ràng buộc những người nào  và chỉ liên quan đến  những vấn đề nào mà luật nhắm tới.

Điều 17.

Luật Giáo Hội  phải được hiểu theo  nghĩa đen của từ ngữ  trong bản văn và trong mạch  văn, nếu còn hồ nghi và tối nghĩa  thì phải nại đến những chổ tương tự , nếu có , đến mục đích và những hoàn cảnh  của luật cũng như  đến ý định của nhà lập pháp .

Điều 18.

 Những luật ấn định một hình phạt hay hạn chế tự do sử dụng  các quyền lợi  hoặc hàm chứa một điều ngoại lệ , thì phải được giải thích  theo nghĩa hẹp.

Điều 19.

Trong một trường hợp đã được xác định , nếu không có quy định  minh nhiên của luật phổ quát  hay của luật địa phương  hoặc nếu không có tục lệ, thì sự việc phải đượ giải quyết theo những luật  đã được ban hành trong những trường hợp  tương tự , theo những nguyên tắc tổng quát  của luật đã được áp dụng  với sự hợp tình hợp lý  của giáo luật , theo án lệ và cách thực hành  của Giáo Triều Roma , theo ý kiến chung và kiên định của các học giả , trừ khi đó là vụ án hình sự.

Điều 20

Luật sau bãi bỏ  hoặc sữa đổi luật trước, nếu luật sau minh nhiên  quy định như vậy , hoặc trực tiếp với luật trước , hoặc đã sắp xếp lạo toàn bộ nội dung luật trước .Nhưng luật phổ quát  không sửa đổi  luật địa phương hay luật đặt biệt , trừ khi luật đã minh nhiên dự liệu cách khác.

Điều 21

Trong trường hợp hồ nghi , không được suy đoán là trước đã bị thu hồi , nhưng các luật sau phải được liên kết và phải được  dung hoà với các luật  trước bao nhiêu có thể.

Điều 22.

Những luật dân sự được luật Giáo Hội  dẫn chiếu phải được tuân giữ trong giáo luật với cùng những hiệu lực pháp lý, trong mức độ những luật đó  không trái với luật Thiên Chúa , và nếu giáo luật không dự liệu cách khác.

 

 

 

ĐỀ MỤC 2: TỤC LỆ

Điều 23

Một tục lệ do một cộng đoàn tín hữu du nhập có hiệu lực pháp lý khi được nhà lập pháp  chuẩn nhận , chiếu theo quy tắc của các điều  khoảng  sau đây

Điều 24

#1. Không một tục lệ nào trái ngược với luật Thiên Chúa  lại có thể hiệu lực  pháp lý .

#2. cũng không có tục lệ nào trái ngược hoặc ngoài giáo luât có thể có hiệu lực pháp lý , trừ khi tục lệ nầy  hợp lý : nhưng một tục lệ nào đó  đã bị luật minh nhiên  bác bỏ thì không còn hợp lý

Điều 25

Không một tục lệ nào có hiệu luật pháp lý , trừ khi được tuân giữ  do một cộng đoàn  có khả năng ít là tiếp nhận một luật  với ý định du nhập một luật.

Điều 26

 Trừ khi có sự chuẩn nhận  đặc biệt của nhà lập pháp có thẩm quyền, một tục lệ trái ngược với giáo luật đang có hiệu lực hoặc ngoài  giáo luật , chỉ có hiệu lực pháp ý, khi được tuân giữ một cách hợp pháp và liên tục  suốt ba mươi năm trọn ; chỉ tục lệ nào  đã có hàng trăm năm  hoặ đã có lâu đời mới có thể  chiếm ưu thế hơn một điều luật hàm chứa một điều khoản cấm các tục lệ mới .

Điều 27

Tục lệ là cách giải  thích  tốt nhất của luật .

Điều28

Miễn là vẫn giữ nguyên  những quy định của điều 5, một tục lệ hoặc một luật trái ngược  hoặc ngoại luật. Nhưng nếu luật không minh nhiên nhắc tới , thì luật không thu hồi  những tục lệ đã có hàng trăm năm  hoặc đã lâu đời và luật phổ quát  không thu hồi các tục lệ địa phương .

 

ĐỀ MỤC 3

NHỮNG SẮC LUẬT VÀ NHỮNG HUẤN THỊ

 

Điều29

Qua những sắc  luật , nhà lập pháp có thẩm quyền ban hành những quy định chung cho một cộng đoàn có khả năng tiếp nhận luật ; những sắc luật  và được chi phối bởi những quy định của các điều liên quan đến luật.

Điều 30

Người nào chỉ có quyền hành pháp mà thôi thì không thể ban hành sắc luật được nói đến ở điều 29, trừ khi trong những trường hợp đặc biệt , họ được nhà lập pháp có thẩm quyền minh nhiên ban cho quyền nầy chiếu theo luật , khi đó họ phải tuân giữ những điều kiện đã được ấn định  trong văn bản ban nhượng.

Điều 31

#1. Trong giới hạn thẩm quyền  của mình , những người có quyền hành pháp có thể  ban hành những sắc lệnh  chấp hành , tức là những sắc luật ấn định chính xác  hơn những thể thức  phải giữ khi áp dụng luật hoặc thúc bách việc tuân giữ luật.

#2.Về việc ban hành và về thời hạn để các sắc luật  bắt đầu có hiệu lực được nói đến ở  #1 , thì phải tuân giữ  những quy định của điều 8.

Điều32

Những sắc luật chấp hành ấn định cách thức áp dụng hay  thúc bách việc tuân giữ luật  thì buộc những người nào phải giữ những luật ấy.

Điều 33

#1. Những sắc luật chấp hành , ngay cả khi được in trong các kim chỉ nam  hay trong bất cứ  một tài liệu nào khác, thì không sửa đổi  luật,và những quy định  nào của những sắc luật đó trái với luật  thì sẽ không có hiệu lực.

#2.Những sắc luật chấp hành ấy hết hiệu lực khi nhà chức trách có thẩm quyền đã minh nhiên hay mặc nhiên thu hồi, và khi luật  vì đó mà các sắc luật được ban bố để quy định việc chấp hành không còn nữa; nhưng các sắc luật không hết hiệu lực khi người ban hành đã hết quyền, trừ khi luật đã minh nhiên dự liệu ngược lại.

Điều 34

#1.Những huấn thị minh giải các quy định của luật, triển khai và ấn định  những phương cách phải giữ  khi thi hành những quy định này , thì được ban hành cho những người có nhiệm vụ lo cho luật được chấp hành và buộc họ  phải khi chấp hành . Trong giới hạn thẩm quyền của mình, những người nào có quyền hành pháp mới ban hành các huấn thị này cách hợp pháp.

#2.Những quy định trong các huấn thị đó  không sửa đổi luật  và nếu không thể dung hoà được với những quy định của luật, thì không có hiệu lực.

#3.Những huấn thị hết hiệu lực không những do sự thu hồi minh nhiên hoặc mặc nhiên của nhà chức trách có thẩm quyền ban hành  huấn thị hoặc của nhà chức trách cấp trên,mà còn do dự chấm dứt của luật  vì đó mà các huấn thị được ban bố để minh giải luật hoặc truyền thi hành luật.

 

 

 

ĐỀ MỤC 4: CÁC HÀNH VI HÀNH CHÍNH RIÊNG BIỆT

 

 

 

CHƯƠNG 1: NHỮNG QUY TẮC CHUNG

 

Điều35

Một hành vi hành chính riêng biệt dù là một sắc lệnh , một mệnh lệnh, hay là một phúc chiếu, có thể được người có quyền  hành pháp ban hành, trong giới hạn thẩm quyền của mình ,miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 76 #1.

Điều 36

#1 Một văn kiện hành chính phải được  hiểu theo nghĩa đen  của từ ngữ và theo ngôn ngữ thường dùng; trong trường hợp hồ nghi , những văn kiện hành chính liên quan đến tranh tụng , ngăm đe hay tuyên kết  một hình phạt , hạn chế quyền lợi  của cá nhân ,xâm phạm quyền thủ đắc của người khác hoặc ngược với một luật có lợi cho tư nhân, thì phải được giải  thích  theo nghĩa hẹp ; còn những hành vi  hành chính khác phải được giải  thích theo nghĩa rộng.

#2. Một hành vi hành chính không được nới rộng sang những trường hợp khác ngoài các trường hợp đã được nêu ra.

Điều 37.

Một hành vi hành chính liên quan đến toà ngoài phải được ghi trong văn bản; cũng vậy , nếu hành vi hành chính  được ban hành theo hình thức uỷ thác; thì lệnh thi hành cũng phải được ghi lại trong văn bản.

Điều 38

Một hành vi hành chính , dù là một phúc chiếu được ban  dưới hình  thức Tự sắc, cũng vô hiệu nếu xâm phạm đến một quyền lợi  thủ đắc hoặc ngược với  một luật hay một tục lệ đã được chuẩn nhận, trừ khi nhà chức trách có thẩm quyền đã minh nhiên  thêm một điều khoản sửa đổi lại.

Điều 39

Các điều kiện trong một văn kiện hành chính chỉ được xem là  chi phối sự hữu hiệu khi được diễn tả bằng những liên từ: nếu ,trừ khi , miễn là.

Điều 40

Người phải chấp hành một hành vi  hành chính sẽ không thi hành nhiệm vụ của mình cách hữu hiệu trước khi nhận được văn thư và trước khi kiểm chứng  tính xác thực và sự toàn vẹn của văn thư , trừ khi nhà chức trách  đưa ra hành vi hành chính đó đã thông báo trước  cho đương sự biết nội dung của văn thư.

Điều 41

Người nào phải chấp hành  một hành vi hành chính mà chỉ được uỷ thác nguyên việc  thi hành , thì không thể từ chối thực hiện hành vi đó , trừ khi thấy rõ là hành vi ấy  vô giá trị hoặc không thể chấp nhận được vì một lý do quan trọng khác, hoặc những điều kiện được đặt ra  trong hành vi hành chính không thể thực hiện được ; tuy nhiên, nếu việc  thực hiện  hành vi hành chính xem ra không thích hợp do hoàn cảnh con người hay địa phương , thì đương sự phải đình hoãn việc thi hành ; trong những trường hợp này, đương sự phải thông báo ngay cho nhà chức trách đã đưa ra hành vi đó.

Điều42

Người chấp hành một hành vi hành chính  phải tiến hành chiếu theo quy tắc của sự uỷ nhiệm ; nhưng việc hti hành ấy sẽ vô hiệu, nếu người a61ykho6ng hoàn thành các điều kiện thiết yếu được đặt ratrong văn thư và nếu không tuân giữ những thể thứ căn của thủ tục.

Điều 43

Tuỳ theo sự phán đoán thận trọng của mình, người chấp hành một hành vi hành chính có thể cử người khác thay thế mình ,nếu việc thay thế đã không bị cấm hoặc nếu đương sự đã không được  chọn  do phẩm cách cá nhân hoặc nếu người thay thế đã không được chỉ định trước; tuy nhiên trong những trường hôp này, người thi hành vẫn được phép uỷ thác cho một người khác thực hiện những việc chuẩn bị.

Điều 44

Ngừơi kế nhiệm người chấp hành hành vi hành chính cũng có thể thực hiệnhành vi dó, trừ trường hợp người chấp hành đã được chọn vì phẩm cách cá nhân.

Điều 45

Nếu đã phạm sai lầm  nào đó trong khi thực hiện  hành vi hành chính , người chấp hành vẫn được phép thực hiện lại hành vi đó .

Điều 46

Hành vi hành chính không chấm dứt  khi người ban cấp hết quyền  trừ khi luật đã minh nhiên dự liệu cách khác .

Điều 47

Việc thu hồi một hành vi hành chính do một hành vi hành chính khác của nhà chức trách  có thẩm quyền chỉ có hiệu lực  kể từ khi việc thu hồi  được thông báo  cách hợp pháp cho người mà hành vi hành chính  đó được ban cho .

 

 

 

 

CHƯƠNG 2: NHỮNG NGHỊ ĐỊNH VÀ NHỮNG MỆNH LỆNH

Điều 48

Nghị định là văn kiện hành chính do nhà chức trách hành pháp ban hành chiếu theo quy tắc luật định , nhằm đưa ra một quyết định hay một việc dự phòng trong một trường hợp đặc biệt ; theo bản chất  , việc quyết định và việc dự phòng này không giả thiết là phải  có người yêu cầu.

Điều 49

Mệnh lệnh là sắc lệnhbuộc cách trực tiếp  và hợp pháp một cá nhân hay nhiều người nhất định  phải làm hoặc bỏ một điều gì , nhất là để thúc bách họ giữ luật.

Điều 50

Trước khi ban hành một nghị dịnh nhà chức trách phải truy tầm cácthông tin và chứng cớ  cần thiết, và ngần nào có thể , phải lắng  những người mà quyền lợi của họ có thể bị tổn thương

Điều 51

 Sắc lệnh phải được ban hành bằng văn bản , nếu là một quyết định  thì phải trình bàycác lý do , ít là cách sơ lược.

Điều 52

Nghị định chỉ có hiệu lực  đối với sự việc đã được ấn định và đối với những người đã được nhằm đến , nghị định ràng buộc  những người này bất kỳ ở đâu, trừ khi đã rỏ cách khác .

Điều 53

Nếu các sắc lệnh trái ngược nhau , thì nghị định có giá trị  hơn sắc luật trong những điểm được nêu lên cách riêng ,nếu cả hai sắc lệnh đều là nghị định hay sắc luật, thì sắc lệnh sau khi sửa đổi  sắc lệnh trước  trong những gì ngược với sắc lệnh trước.

Điều 54

#1. Khi việc áp dụng  một nghị định được ủy thác cho một người thi hành , thì nghị định  có hiệu lực từ khi thi hành , nếu không , thì nghị định có hiệu lực từ lúc nhà chức trách ban hành nghị định thông báo cho đương sự biết .

#2. Để có thể thúc bách  việc thi hành nghị định  phải thông báo nghị định bằng văn thư hợp pháp  chiếu theo quy tắc của luật.

Điều 55

Miễn là vẫn giữ nguyên  những quy định của các điều 37 và 51, khi có một lý do rất  nghiêm trọng   ngăn trở về việc trao văn bản , sắc lệnh vẫn đu7o5c xem  như đã được thông báo , nếu đã được đọc cho đương sự nghe trước  mặt một công chứng  viên hay trứơc mặt hai nhân chứng , sau đó phải lập biên bản và tất cả những người  hiện diện phải ký tên vào đó.

Điều 56

Mộy sắc lệnh được xem như  đã được thông báo , nếu đương sự đã được triệu tập cách hợp lệ để nhận hay nghe đọc sắc lệnh, nhưng đã không chịu đến  hay không chịu ký tên, dù không có lý do chính đáng.

Điều 57

#1.Mỗi khi luật buộcphải ban hành sắc lệnh hay khi đương sự  thỉnh cầu hoặc thượng cầu  một cách hợp pháp  để được một sắc lệnh thì nhà chức trách  có thẩm quyền để phúc đáp trong vòng ba tháng  kể từ khi nhận được  đơn thỉnh cầu hay đơn thượng cầu , trừ khi luật đã  ấn định một thời hạn khác .

#2.Hết thời hạn này , nếu sắc lệnh chưa được ban hành  thì việctrả lời được suy đoán là bị từ chối  đối với việc trình bày  trong đơn thượng cầu sau .

#3. Dù việc trả lời được suy đóan là bị từ chối, nhà chức trách có thẩm quyền vẫn phải giữ nghĩa vụ  ban hành sắc lệnh và cả nghĩa vụ bồi thường  thiệt hại nếu có , chiếu theo quy tắc của điều128.

Điều 58

#1. Một nghị định hết hiệu lực do sự thu hồi cách hợp pháp của nhà chức trách có thẩm quyền  cũng như do sự chấm dứt  của luật vì đò mà  nghị định được ban  để thi hành .

#2. Một lệnh lệnh không được ban hành  chính thức bằng một văn bản  sẽ chấm dứt do sự mãn nhiệm của người đã ban hành  mệnh lệnh.

 

 

 

CHƯƠNG 3: PHÚC CHIẾU

 

Điều 59

#1. Phúc chiếu là hành vi  hành chính  do nhà chức trách có thẩm quyền  hành pháp ban hành  bằng văn bản: tự bản chất , phúc chiếu ban một đặc ân, một ơn miễn chuẩn hay một ân huệ nào khác , theo sự thỉnh cầu của một người.

#2. Những quy định về phúc chiếu cũng có giá rị đối với việc  ban phép hay ban ân huệ bằng miệng , trừ khi đã rõ cách khác.

Điều 60

Tất cả những ai không bị cấm cách minh nhiên đều có thể xin bất cứ phúc chiếu nào.

Điều 61

Trừ khi đã rõ cách khác , có thể xin phúc chiếu cho một người  khác , ngay cả khi người đó  không đồng ý , và phúc chiếu có hiệu lực cả trước khi người đó chấp thuận, miễn là vẫn giữ nguyên  những điều khoản trái ngược .

Điều 62

Một phúc chiếu không chỉ định  người chấp hành thì có hiệu lực kể từ lúc ban văn thư ; còn những ph1uc chiếu khác có hiệu lực kể từ lúc được chấp hành .

Điều 63

#1. Sự ẩn khai hoặc che giấu sự thật sẽ vô hiệu hoá phúc chiếu , nếu trong đơn xin đã không trình bày điều cần phải trình bày  để thành sự , chiếu theo luật , theo cách thức hành văn  và theo thủ tục giáo luật , trừ khi đó là phúc chiếu ban ân huệ được ban dưới hình thức Tự sắc.

#2. Sư mạo khai hay điều giả dối  cũng vô hiệu hoá phúc chiếu , nếu trong số những lý do được viện dẫn  không có một lý do nào là đùng sự thực.

#3. Đối với những phúc chiếu không có người thi hành, thì lý do được viện dẫn phải đúng sự thực kể từ lúc ban hành phúc chiếu; còn đối với những phúc chiếu khác , thì kể từ lúc được chấp hành

Điều 64

#1. Miễn là vẫn giữ nguyên  quyền của Toà Án  Giải đối với toà trong  , một ân huệ đã bị một Bộ của Giáo Triều Roma khước từ  thì không có Bộ  nào khác củá cùng Giáo Triều  hay không có một  nhà chức trách  có thẩm quyền nào khác  dưới Đức Giáo Hoàng  có thể ban cách hữu hiệu  được , nếu không có sự chấp thuận  của Bộ đã được cứu xét đầu tiên .

Điều 65

#1. Miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của #2 và #3 , không ai được xin một  Đấng Bản Quyền khác ban cho một ân huệ  đã bị Đấng Bản Quyền của mình từ chối , trừ khi họ có đề cập đến  việc từ chối ấy ; nhưng cho dù việc từ chối  đã được đề cập  thì Đấng Bản Quyền khác không nên ban ân huệ , trừ khi được Đấng Bản  Quyền trước cho biết các lý do từ chối .

#2.Ân huệ đã bị Tổng Đại Diện  Giám mục từ chối thì không có Đại Diện nào khác của cùng Giám Mục đó có thể ban cách hữu hiệu ân huệ đó , cho dù đã biết  các lý do từ chối của  vị Đại Diện trước.

#3. Ân huệ đã bị Tổng Đại Diện hay Đại Diện Giám  Mục từ chối , sau đó lại được Giám Mục giáo phận ban mà không đề cập đến sự từ chối này, thì vẫn còn vô hiệu , còn ân huệ đã bị Giám Mục  giáo phận từ chối thì Tổng Đại Diện hay Đại Diện Giám Mục không có quyền ban cách hữu hiệu , cho dù đề cập đến sự từ chối ấy, nếu Giám Mục không ưng thuận.

Điều 66

Phúc chiếu không trở thành vô hiệu thì sự sai lầm  về danh tính người nhận hay người ban hành  phúc chiếu , hoặc về nơi cư cú hay về sự việc  liên quan , miễn là theo phán đoán  của Đấng Bản Quyền  không có hồ nghi gì  về người hay về sự việc.

Điều 67

#1. Nếu trong cùng một vấn đề  mà có hai phúc chiếu trái ngược nhau , thì phúc chiếu riêng có giá trị hơn  phúc chiếu chung trong  những điều có tính cách riêng biệt .

#2. Nếu cả hai đều  là phúc chiếu riêng  hoặc phúc chiếu chung , thì phúc chiếu trước có giá trị hơn phúc chiếu sau , trừ khi phúc chiếu  sau minh nhiên đề cập phúc chiếu trước, hoặc người ban phúc vì man trá  hoặc quá lơ đễnh .

#3.Nếu hồ nghi  không biết phúc chiếu  có vô hiệu hay không , thì phải thỉnh ý người đãban phúc chiếu .

Điều 68

Một phúc chiếu của Toà Thánh  trong đó không nói rõ  người thi hành , thì chỉ phải trình với Đấng Bản Quyền của người nhận phúc chiếu  , hki điều đó được quy định trong văn thư , hoặc khi có liên quan  đến các việc công , hoặc khi phải kiểm chứng  các điều kiện.

Điều 68

 Một phúc chiếu của Toà Thánh  trong đó không nói rõ người thi hành , thì  chỉ phải trình  với Đấng Bản Quyền của người nhận phúc chiếu , khi điều đó được quy định trong văn thư , hoặc khi có liên quan  đến các việc công , hoặc khi phải kiểm chứng  các điều kiện.

Điều  69

Phúc chiếu nào không quy định  thời hạn phải trình , thì có thể trình với người  thi hành lúc nào tuỳ ý , miễn là không có lừa đảo và man trá

Điều 70

Nếu chính việc ban ân huệ  trong phúc chiếu được uỷ thác cho một người  thi hành , thì người nầy ban ân huệ hoặc từ chối  tuỳ chối tuỳ theo lương tâm và sự phán đoán thận trọng của mình .

Điều 71

Không ai bị buộc  phải sử dụng một phúc chiếu  được ban vì ích lợi cá nhân mình , trừ khi bị  một nghĩa vụ  giáo luật buộc sử dụng  vì nguyên do nào khác.

Điều 72

 Những phúc chiếu do Toà Thánh  ban đã hết hạn  có thể do Giám Mục giáo phận gia hạn  một lần khi có lý do chính đáng , nhưng không quá ba tháng .

Điều 73

 Không một phúc  chiếu nào bị thu hồi  do một luật trái ngược , trừ khi chính luật đó  đã dự liệu cách khác.

Điều 74

 Cho dù một người có thể sử dụng  ở toà trong một ân huệ  được ban hành  bằng  miệng , thì người ấy vẫn phải  chứng minh ân huệ đó ở toà ngoài, mỗi khi họ được  h3i cách hợp pháp.

Điều 75

 Nếu phúc chiếu bao hàm một đặc ân  hay một sự miễn chuẩn, thì còn phải giữ nhũng quy định  của các điều khoản sau đây.

 

 

 

CHƯƠNG 4: ĐẶC ÂN

 

Điều 76

# 1.Đặc ân là ân huệ  được ban bằng  một hành vi riêng biệt  vì lợi ích của một số thể nhân  hay pháp nhân nào đó ; nhà lập pháp cũng như nhà chức trách  hành pháp đã được  nhà lập pháp uỷ quyền  có thể ban đặc ân.

#2. Việc chấp hữu  đặc ân từ trăm năm hay từ lâu đời  cho phép suy đoán  là đặc sủng đã được ban .

Điều 77

Đặc ân phải được giải thích  chiếu theo quy tắc của điều 36 #1; nhưng luôn phải giải thích  thế nào để những người  hưởng đặc ân thật sự  lãnh nhận một ân huệ nào đó .

Điều 78

# 1.Đặc ân được suy đoán là vĩnh viễn , trừ khi có chứng cớ ngược lại.

# 2.Đặc ân tòng nhân, tức là đặc ân gắn liền với con người chấp dứt khi người ấy chết .

# 3.Đặc ân tòng sở chấm dứt khi sự vật hay nơi chốn bị huỷ hoại hoàn toàn; nhưng đặc ân tòng sở  được tái sinh nều nơi ấy  được phục hồi  trong vòng năm mươi năm.

Điều 79

Đặc ân chấm dứt do sự thu hồi của nhà chức trách có thẩm quyền chiếu theo quy tắc  của điều 47 , miễn là vẫn giữ nguyên  những  quy định  của điều 46.

Điều 80

#1. Không một đặc ân nào  chấm dứt cho việc từ chối , trừ khi nhà chức trách có thẩm quyềm chấp nhận  sự từ chối ấy.

#2. Bất cứ thể nhân nào  cũng có thể từ chối môt đặc ân được banvi2 lợi ích cá nhân mình .

#3. Các cá nhân không thể từ chối một đặc ân được ban  cho pháp nhân , hoặc được ban  vì phẩm cách của một nơi cho61nhay của một sự  vật , và chính pháp nhân cũng không  thể từ chối  một đặc ân đã được ban cho mình , nếu sự từ chối đó gây thiệt hại cho Giáo Hội  hay cho những người khác.

Điều 81

Đặc ân không chấm dứt  khi người ban cấp hết quyền, trừ trường hợp đặc ân được ban với điều khoản " Theo sở thích của chúng tôi "

Hay với một điều khoản  khác tương đương .

Điều 82

Đặc ân nào không tạo gánh nặng  cho kẻ khác thì sẽ không chấm dứt khi không  được sử dụng hay khi được sử dụng  ngược lại ; còn đặcân nào tạo gánh nặng  cho kẻ khác thì sẽ chấm dứt nếu thời hiệu hợp pháp  xảy đến.

Điều 83

#1. Đặc ân chấm dứt do mãn hạn  hay do hết số trường hợp đã dành để ban đặc ân, miễn là vẫn giữ nguyên  những quy định của điều 142 #2.

#2. Đặc ân chấm dứt nếu , theo sự phán đoán  của nhà chức trách  có thẩm quyền, những hoàn cảnh đã thay đổi với  thời  gian , đến nỗi đặc ân trở thành  nguy hại , hoặc việc sử dụng đặc ân trở thành bất hợp pháp .

Điều 84.

Người nào lạm dụng quyền hành  do đặc ân ban cho thì đáng bị  tước bỏ đặc ân ấy ; vì thế, sau khi đã cảnh cáo  người hưởng đặc ân  mà không có hiệu quả ,Đấng Bản Quyền  phải tước bỏ những  đặc ân do chính mình banbi5 lạm dụng  cách nghiêm trọng ; và nếu đặc ân do Tông Toà ban , thì Đấng Bản Quyền phải thông báo cho Tông Toà biết.

 

 

 

 

CHƯƠNG 5: MIỄN CHUẨN

 

Điều 85

Miễn chuẩn, hay là sự nới lỏng  một luật thuần tuý Giáo Hội trong một trường hợp đặc biệt, có thể được ban do  những người  có quyền hành pháp , trong giới hạn  thẩm quyền của mình , cũng như do những người minh nhiên hay mặc nhiên có quyền miễn chuẩn , hoặc do chính luật , hoặc do một sự uỷ quyền hợp pháp.

Điều 86

Không  thể miễn chuẩn  những luật ấn định những yếu tố thiết yếu  làm nên các định chế  hay các hành vi pháp lý .

Điều 87

#1 Mỗi khi xét thấy có lợi ích thiêng liêng cho tín hữu  Giám Mục  giáo phận có quyền miễn chuẩn cho họ khỏi phải giữ  những luật có tính cách kỷ luật , dù là luật phổ quát  hay là luật địa phương , do quyền bính tối cao  của Giáo Hội đã ban hành  cho lãnh thổ hay cho  các người thuộc quyền mình , nhưng không được miễn chuẩn những luật hình sự tố tụng , cũng như những luật mà việc miễn chuẩn  được đặc biệt  dành riêng cho Tông Toà hay cho môt nhà chức trách khác

#2. Nếu khó thượng cầu  lên Toà Thánh và đồng thời có nguy cơ thiệt hại nặng do việc trì hoãn , thì bất cứ Đấng Bản Quyền nào cũng có quyền miễn chuẩn những luật đó , ngay cả khi sự miễn chuẩn  được dành cho Toà Thánh  quen ban trong những  hoàn cảnh như vậy và vẫn giữ nguyên  những quy định  của điều 291.

Điều 88

Đấng Bản Quyền  địa phương có quyền  miễn chuẩn những luật giáo phận ,và mỗi khi xét thấy có ích cho tín hữu , thì có quyền miễn chuẩn  những luật do công đồng  giáo miền hay công đồng giáo tỉnh  hoặc do Hội Đồng Giám Mục  ban hành.

Điều 89

Cha sở và những linh mục hoặc những phó tế không thể miễn chuẩn môt luật phổ quát hay một  luật địa  phương , trừ khi quyền đó được minh nhiên ban cho các vị.

Điều 90

#1. Không được miễn chuẩn  một luật Giáo Hội  khi không có một lý do chính đáng  và hợp lý , sau khi đã cân nhắc  các hoàn cảnh của trường hợp và tầm quan trọng  của chính luật miễn chuẩn; nếu không , sự miễn chuẩn là bất hợp pháp và, nếu sự miễn chuẩn đó không được chính nhà lập pháp hay cấp trên của người này ban cho , thì còn vô hiệu nũa .

#2. Việc miễn chuẩn  vẫn được ban cách hữu hiệu và hợp pháp trong trường hợp hồ nghi có đủ lý do hay không .

Điều 91

Người nào có quyền miễn chuẩn , thì có thể thi hành quyền đó ngay cả khi ở ngoài địa hạt  của mình , đối với người thuộc quyền mình , cho dù họ không ở địa hạt , nếu không minh nhiên ấn định  ngược lại , cũng như đối với  chính bản thân nữa .

Điều 92

 Không những sự miễn chuẩn phải được giải thích theo nghĩa hẹp chiếu theo quy tắc của  điều 36 #1, mà cả quyền miễn  chuẩn  được ban trong một trường hợp nhất định.

Điều 93

Sự miễn chuẩn với việc áp dụng kéo dài  sẽ chấm dứt theo cách thức tương tự  như những đặc ân, cũng như do sự chấm dứt chắc chắn và hoàn toàn của lý do xin miễn chuẩn.

 

 

 

ĐỀ MỤC 5: CÁC QUY CHẾ VÀ NỘI QUY

 

ĐiỀu 94

#1. Theo nghĩa đen , những quy chế là những quy định  được thiết lập chiếu theo luật cho những tập hợp  nhân sự hoặc sự vật , nha92m ấn định mục đích ,cơ cấu , việc điều hành và những thể thức hành động.

#2. Những quy chế của một tập hợp nhân sự chỉ buộc  những người là thành viên  hợp pháp của tập hợp đó; còn quy chế của một  tập hợp sự vật  thì buộc những người điều hành đó.

#3. Những quy định của quy chế do quyền lập pháp  thiết lập và công bố thì được  chi phối bởi những quy định của các điều liên quan về luật.

Điều 95

#1. Những nội quy là những  điều lệ  hay những quy tắc phải tuân giữ trong các cuộc hội họp do nhà chức trách Giáo Hội triệu tập , hoặ do các Kito hữu tự ý tụ họp, cũng như trong các cuộc cử hành khác ,điều lệ xác định cơ cấu, việc điều  hành và cách thức làm việc.

#2. Những người tham dự các cuộc họp hoặc các cuộc cử hành  buộc phải giữ những điều lệ của nội quy

 

 

 

ĐỀ MỤC 6: CÁC THỂ NHÂN VÀ PHÁP NHÂN

 

 

 

 

CHƯƠNG 1: TÌNH TRẠNG GIÁO LUẬT CỦA CÁC THỂ NHÂN

Điều 96

Nhờ bí tích Rửa Tội , con người đượcsáp nhập vào Giáo Hội Chúa Kito và trở thành  một thể nhân trong Giáo Hội , với những ngĩa vụ và quyền lợi riêng của người Kito hữu , tuỳ theo hoàn cảnh của họ , trong mức độ họ hiệp thông với Giáo Hội , và miễn là họ không bị  ngăn trở bởi một hình phạt đã được tuyên bố cách hợp pháp.

Điều 97

# 1. Một người đã được  mười tám tuổi trọn là thành niên ; dưới tuổi đó là vị thành niên.

#2 Người vị thành niên trước khi  được bảy tuổi  trọn được gọi là  nhi đông và được xem như  không làm chủ bản thân , một khi được bảy tuổi trọn , thì được suy đoán  là biết sử dụng trí khôn.

Điều 98

#1. Người thành niên có toàn quyền sử dụng  các quyền của mình .

#2. Người vị thành niên khi sử dụng các quyền của mình phải tuỳ thuộc uy quyền  của cha mẹ hay người giám hộ, trừ những quyền mà luật Thiên Chúa hay giáo luật  đã miễn cho họ khỏi uy quyền của các vị ấy ; về việc chỉ định người giám hộ và quyền giám hộ , thì phải giữ những quy định của luật nhân sự , trừ khi giáo luật dự liệu  cách  khác ,hoặc nếu  Giám Mục giáo phận , trong một số trường hợp nhất định và vì một lý do chính đáng , xét thấy cần phải chỉ định một người giám hộ khác.

Điều 99

Người nào thường xuyên không sử dụng đầy đủ trí khôn , thì được coi như là  không làm chủ bản thân  và được đồng hoá với nhi đồng .

Điều 100

Một người được gọi là người thường trú , khi họ ở tại nơi  mà họ có cư sở ; được gọi là  người tạm trú, khi họ ở tại nơi mà họ có bán cư sở; được gọi là ngoại cư, nếu họ ở ngoài cư cở hoặc bán cư sở mà họ vẫn còn giữ ; được gọi là người không có cư sở , nếu họ không có cư sở hay bán cư sở ở bất cứ nơi nào.

Điều 101

#1 Nguyên quán của người con ,kể cả của người tân tòng , là nơi mà, khi người con sinh ra, cha mẹ có cư sở hay bán cư sở, nếu không có cư sở , và nếu cha mẹ không có chung một cư sở  hay bán cư sở, thì nguyên quán của người con là cư sở hay bán cư sở của người mẹ.

#2 Nếu là con của người không có cư sở, thì nguyên quán là chính nơi người con được sinh ra ;nếu là con bị bỏ rơi, thì nguyên qua1nla2 nơi người con  đã được tìm thấy .

Điều 102

#1. Cư sở  được thủ đắc do việc cư ngụ trong địa hạt  của một giáo xứ hay ít ra của một giáo phận , với ý định sẽ ở đó vĩnh viễn , nếu không có gì thay đổi , hoặc việc cư  ngụ đã được kéo dài  năm năm trọn.

#2. Bán cư sở được thủ đắc do việc cư ngụ trong địa hạt của một giáo xứ hay ít ra của một  giáo phận .với ý định ở đó ít là ba tháng nếu không có gì thay đổi , hoặc việc cư ngụ  đã thật sự được kéo dài  suốt ba tháng .

#3. Cư sở hay bán cư sở  trong địa hạt của một giáo xứ  được gọi là cư sở hay bán cư sở  thuộc giáo xứ , trong  địa hạt của môt giáo phận, dẫu không ở trong giáo xứ, trong địa hạt của một giáo phận, dấu không ở trong giáo xứ, thì được gọi là cư sở hay bán cư sở thuộc giáo phận.

Điều 103

Những thành viên các hội dòng và của các tu đoàn tông đồ thủ đắc  cư sở tại nơi toạ lạc của nhà mà họ trực thuộc ; họ thủ đắc bán cư sở tại nhà họ đang ở, chiếu theo quy tắc của điều 102 #1.

Điều 104

Vợ chồng có chung một cư sở hoặc bán cư sở; vì lý do ly thân hợp pháp hayvi2 một lý do chính đáng khác, mỗi người có thể có cư sở hoặc bán cư sở riêng.

Điều 105

31. Người vị thành niên nhất thiết phải giữ cư sở  hoặc bán cư so73cua3 người họ thuộc quyền .Quá tuổi  nhi đồng , người vị thành niên cũng có thể thủ đắc bán cư sở riêng ;và nếu  đã được thoát quyền cách hợp pháp  chiếu theo luật dân sự , thì người vị thành niên cũng có thể có cư sở riêng .

#2. Người nào được trao cho người khác giám hộ quản tài cách hợp pháp vì một lý do nào khác  ngoài lý do vị thành niên , thì lấy cư sở hay bán cư sở của người giám hộ hay người quản tài .

Điều106

Cư sở và bán cư sở bị mất do việc rời khỏi nơi ấy với ý định không trở  về lại , miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 105.

Điều 107

# 1. Docư sở cũng như bán cư sở, mỗi người có cha sở và Đấng Bản Quyền của mình.

#2. Cha sở hay Đấng Bản Quyền  riêng của người không có cư sở là cha sở hay Đấng Bản Quyền nơi người ất hiện đang cư ngụ.

#3. Người nào chỉ có một cư sở hay môt bán cư sở thuộc giáo phận thì cha sở riêng  ;là cha sở nơi mà họ đang cư ngụ.

Điều 108

#1.Huyết tộc được tính theo hàng và bậc.

#2. Trong hàng dọc, có bao nhiêu đời  thì có bấy nhiêu bậc, nghĩa là có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu bậc, không tính gốc tổ chung .

#2.Trong hàng dọc ,có bao nhiêu đời  thì có bấy nhiêu bậc, nghĩa là có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu bậc, không tính gốc tổ chung .

#3. Trong hàng ngang, có bao nhiêu người tính chung cả hai hàng thì có bấy nhiêu bậc , không tính gốc tổ chung .

Điều109

#1. Họ kết bạn  phát sinh do hôn nhân thành sự , cho dù bất hoàn hợp , và tồn tại giũa người chồng  với huyết tộc của người vợ , cũng như giữa người vợ  với huyết tộc của người chồng.

#2. Họ kết bạn được tính như thế nầy ; huyết tộc của người chồng có họ kết bạn với người vợ ở cùng hàng và cùng bậc, và ngược lại.

Điều 110

Những đứa con được nhận làm dưỡng tử chiếu theo luật dân sự thì được coi như con ruột của một người hay của những người đã nhận nuôi chúng .

Điều 111

#1.Do việc lãnh nhận bí tích Rửa Tội , con cái được ghi danh vào Giáo Hội Latinh , nếu cha mẹ thuộc về Giáo Hội đó, cũng vậy, nếu một trong hai  không thuộc Giáo Hội Latinh ; nhưng cả hai đều đồng ý  để con cái rửa tội trong Giáo Hội Latinh ; trong trường hợp bất đồng ý kiến ,con cái được ghi danh  vào Giáo Hội lễ điển của người cha .

#2Sau khi đã được mười bốn tuổi trọng , người xin rửa tội  có thể tự do  chọn được rửa tội trong Giáo Hội Latinh hoặc trong Giáo Hội nghi lễ tự lập khác trong trường hợp ấy, họ thuộc về Giáo Hội  họ đã chọn.

Điều 112

#1 sau khi nhận bí tích Rửa Tội, những người sau đây được ghi danh vào Giáo Hội nghi lễ tự lập khác:

10 người đã được Tông Toà ban phép;

20 người phối ngẫu , khi kết hôn hay trong đời sống hôn nhân, đã tuyên bố chuyển sang Giáo Hội nghi lễ tụ lập của người phối ngẫu kia ; nhưng một khi hôn nhân đã đoạn tiêu , người ấy có thể tự do trở lại Giáo Hội Latinh ;

30 con cái của nhũng người nói đến ở 10và20 chưa đủ mười bốn tuổi trọn , cũng như trong một đôi hôn nhân   hỗn hợp, con cái của ở bên Công giáo đã chuyển qua Giáo Hội nghi lễ khác cách hợp pháp; nhưng  khi qua tuổi trên rồi , chúng có thể trở lại Giáo Hội Latinh.

#2. Thói quen lãnh nhận các bí tích theo nghi thức của một Giáo Hội theo nghi lễ tự lập, mặc dầu đã có từ lâu , không đòi hỏi việc ghi danh vào Giáo Hội ấy.

 

 

 

CHƯƠNG 2: CÁC  PHÁP NHÂN

Điều 113

#1. Giáo Hội Công Giáo và Tông Toà đều có tư cách pháp nhân, do ý định của Thiên Chúa .

#2. Ngoài các thể nhân, trong Giáo Hội cũng còn có những pháp nhân , nghĩa là đối với  giáo luật , những chủ thể của những nghĩa vụ và quyền lợi tương xứng  với bản chất riêng của họ.

Điều114

#1.Những tập hợp nhân sự hoặc sự vật nhằm một một mục đích phù hợp với sứ mạng của Giáo Hội và vượt trên mục đích của các cá  nhân , được thiết lập thành các pháp nhân, do chính quy định của luật hoặc do nhà chức trách có thẩm quyền  ban các đặc biệt qua sắc lệnh.

#2 Những mục đích được nói đến ở #1 được hiểu là những việc liên quan đến hoạt động đạo đức, tông đồ hay bác ái , hoặc thiêng lie6nghoa85c thế tục.

#3. Nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo Hội chỉ nên ban tư cách pháp nhân  cho nhũng tập hợp nhân sự hoặc sự vật đeo đuổi  môt mục đích thật sự hữu ích,và có đủ các phương tiện để đạtđược mục đích đó, sau khi cân nhắc mọi mặt

Điều 115

#1.Các pháp nhân trong Giáo Hội là những tập hợp nhân sự  hoặc là những tập hợp sự vật .

# 2. Một tập hợp nhân sự có thể được thiết lập  khi có ít nhất là ba người ; tập hợp đó có tính cách hiệp đoàn ,nếu các thành viên  ấn định hoạt động của tập hợp bằng cách  đồng tham gia vào việc quyết định chung , dù đồng quyền hành hay không , chiếu theo quy tắc của luật  và của các quy chế ; nếu không , thì tập đó không có tính cách hiệp đoàn .

# 3. Tập hợp sự vật  hay quỹ tự trị , gồm những tài sản hay sự vật hoặc tinh thần hoặc vật chất , chiếu theo quy tắc của luật và của cá quy chế ,được một hoặc nhiều thể nhân hoặc một hiệp đoàn quản trị .

Điều 116

#1. Các pháp nhân công là những tập hợp nhân sự hoặc sự vật được nhà chức trách  có thẩm quyền trong Giáo Hội  thiết lập , để trong những giới hạn  đã được ấn định , họ nhân danh Giáo Hội  chu toàn nhiệm vụ riêng đã được trao cho vì lợi ích chung ,chiếu theo những quy định của luật ; những pháp nhân khác là những pháp nhân tư .

#2.  Các pháp  nhân  công có  tư cách pháp nhân , hoặc do chính luật hoặc do một sắc lệnh  đặc biệt của nhà chức trách  có thẩm quyền ban cách minh nhiên; các pháp nhân tư chỉ có được tư cách này do sắc lệnh đặc biệt  của nhà chức trách  có thẩm quyền ban tư cách  này cách minh nhiên.

Điều 117

Không một tập hợp nhân sự  hay sự vật nào muốn có tư cách pháp nhân  mà có thể có được tư cách ấy, trừ khi quy chế của tập hợp đã được nhà chức trách  có thẩm quyền phê chuẩn.

Điều 118

Những người đại diện pháp nhân công và hành động nhân danh pháp nhân ấy , là những người được luật phổ quát  hay luật địa phương hoặc quy chế riêng  công nhận họ có thẩm quyền này, những người đại diện pháp nhân tư là những người được quy chế trao cho thẩm quyền này.

Điều 119

Đối các hành vi hiệp đoàn , trừ khi luật hay quy chế đã tự liệu cách khác thì:

10 nếu là việc bầu cử , điều gì được đa số tuyệt đối những người hiện diện  đồng ý, thì điều ấy có giá trị pháp luật , miễ n là đa số những người phải được triệu tập đã được hiện  ; sau hai lần bỏ phiếu vô hiệu, phải dồn phiếu cho  hai ứng viên đã được nhiều phiếu nhất , hoặc nếu có  nhiều ứng viên như vậy , thì phải dồn phiếu cho hai ứng viên nhiều tuổi hơn ; sau lần bỏ phiếu thứ ba , nếu các ứng viên có số phiếu ngang nhau, thì ứng viên cao niên nhất  sẽ đắt cử;

20 nếu là các vấn đề khác , điều gì được đa số tuyệt đối những người hiện đồng ý , thì điều ấy có giá trị pháp luật, miễn là đa số những người phải được triệu tập đã hiện diện ; nếu sau hai lần bỏ phiếu bỏ phiếu mà số phiếu ngang nhau , thì vị chủ toạ có thể dùng phiếu của minh để tiêu huỷ sự ngang phiếu đó ;

30 nếu vấn đề liên quan đến tất cả mọi người  cũng như từ người,, thì phải được mọi người chấp thuận.

Điều 120

#1. Pháp nhân tự bản chất là vĩnh viễn ; tuy nhiên, pháp nhân cũng chấm dứt,nếu bị nhà chức trách có thẩm quyền chính thức bãi bỏ , hoặc đã ngưng hoạt động  từ một trăm năm ; pháp nhân tư cũng chấm dứt, nêu chính  hiệp hội bị giải thể  chiếu theo quy chế, hoặc nếu theo sự phán đoán  của nhà chức trách có thẩm quyền , chính quỹ  cũng không còn nữa, chiếu theo quy chế.

#2.Nếu số thành viên của pháp nhân có tính cách hiệp đoàn chỉ còn một người, và nếu tập hợp nhân sự  chiếu theo quy chế vẫn không chấm dứt, thì việc sử dụng mọi quyền của tập hợp thuộc về thành viên ấy.

Điều 121

Nếu nhiều tập hợp nhân sự hoặc sự vật là pháp nhân công sáp nhập lại thành một tập hợp  cũng có tư cách pháp nhân, thì pháp nhân mới này sẽ được thừa hưởng những của cải và những quyền lợi thuộc sản nghiệp riêng của pháp nhân trước; cũng như đảm nhận  những  nghĩa vụ mà pháp nhân trước đã gánh chịu ; nhưng phải tôn trọng ý muốn của những người sánh lập và những người dâng cúng, cũng như những quyền lợi thủ đắc , nhất là trong  việc sử dụng của cải và chu toàn các nghĩa vụ.

Điều 122

Nếu một tập hợp có tư cách pháp nhân công được phân chia thế nào để sáp nhập một phần của tập hợp ấy vào một pháp nhân khác, hoặc để thành lập  một pháp nhân công biệt lập từ phần đượcphân chia ra , thì nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo Hội có quyền phân chia , nhưng trước hết phải tôn trọng cả ý muốn của những người sáng lập hay dâng cúng ,cả những quyền lợi thủ đắc,cũng như những quy chế đã được chuẩn nhận , đồng thời phải đích thân hay nhờ người thi hành lo liệu:

10để phân chia những của cải và những quyền lợi  thuộc sản nghie65pnchung có thể phân chia được , cũng như những món nợ và những nghĩa vụ khác, giữa các pháp nhân liên hệ , theo một tỷ lệ hợp tình hợp lý,sau khi đã xét mọi hoàn cảnh và nhu cầu của mỗi bên ;

20để mỗi pháp nhân có quyền sử dụng  và hưởng hoa lợi của  những tài sản chung không thể phân chia được, cũng như có trách nhiệm gánh chịu những nghĩa vụ  gắn liền với những tài sản đó , cũng theo tỷ lệ hợp tình hợp lý sẽ đi7ợc ấn định .

Điều 123

Khi một pháp nhân công chấp dứt , việc sử dụng của cải và những quyền lợi thuộc sản nghiệp , cũng như  những nghĩa vụ của pháp nhân đó ,phải được điều hành  theo luật và các quy chế , nếu luật và các quy chế không nop1i gì hti2 những của cải, quyền lợi  và nghĩa vụ ấy  thuộc về pháp nhân trực tiếp cao hơn, nhưng luôn luôn phải tôn trọng  ý muốn của những người sáng lập hay dâng cúng cũng như những quyền lợi thủ đắc ; khi pháp nhân tư chấm dứt , việc sử dụng những của cải và nghĩa vụ phải được điều hành theo quy chế riêng .

 

 

 

 

ĐỀ MỤC 7: CÁC HÀNH VI PHÁP LÝ

Điều 124

#1. Để được hữu hiệu , một hành vi pháp lý phải do một người có khả năng hành động thự hiện và phải hội đủ những yếu tố cấu thành bản chất của hành vi ấy , cũng  như phải giử  những thể thức và những điều kiện mà luật đòi hỏi để hành vi được hữu hiệu .

#2. Một hành vi pháp lý được thực hiện hợp lệ xét theo các yếu tố bên ngoài , thì được suy đoán là hữu hiệu.

Điều 125

#1. Một hành vi do một người thực hiện thì bạo lực bên ngoài mà không thể chống lại được, thì kể như không có.

#2.Một hành vi được thực hiện ,do sợ hãi nghiêm trọng được gây ra cách bất công , hoặc man trá , thì vẫn hữu hiệu, trừ khi luật đã dữ liệu cách khác , tuy nhiên, hành vi ấy có thể  bị  huỷ bỏ do bản án của thẩm phán , hoặc thỉnh cầu của đương sự bị thiệt hại , hay của những người thừa kế  người ấy chiếu theo luật , hoặc chiếu theo chức vụ.

Điều 126

Một hành vi được thực hiện  do không biết hoặc do lầm lẫn về yếu tố cấu thành  bản chất của hành vi , hoặc về điều kiện tất yếu , thì vô giá trị ; ngoài các trường hợp ấy, hành vi vẫn có giá trị, trừ luật đã dự liệu cách khác; tuy nhiên ,hành vi được thực hiện do không biết hoặc do lầm lẫn có thể sinh ra tố quyền bãi tiêu chiến theo quy tắc của luật.

Điều 127

Khi luật ấn định rằng, thể thực hiện các hành vi , Bề Trên cần có sự ưng thuận hay ý kiến của một hiệp đoàn hoặc của một nhóm người  đó phải được triệu tập  chiếu theo quy tắc của điều 166, trừ khi luật địa phương hay luật riêng đã dự liệu cách khác trong trường hợp chỉ cần hỏi ý kiến ; nhưng để các hành vi được hữu hiệu , Bề Trên cần phải có sự đồng ý của đa số tuyệt đối những người hiện diện hoặc phải hỏi ý kiến của mọi người .

#2.Khi  luật ấn định rằng , để thực hiện các hành  vi , Bề Trên cần có sự ưng thuận hay ý kiến của một số người ,xét như từng cá nhân .

10nếu luật đòi hỏi có sự ưng thuận , thì hành vi sẽ vô hiệu , khi Bề Trên không có sự ưng thuận của họ, hoặc hành động trái ý họ hay trái ý một người nào trong họ

20nếu luật đòi hỏi ý kiến , thì hành vi sẽ vô hiệu, khi Bề Trên không bàn hỏi với họ ; mặc dầu không buộc  theo ý kiến của họ, ngay cả khi họ nhất trí , nhưng nếu không có lý do nào mạnh hơn theo thẩm định của mình , thì Bề Trên  không nên làm trái ý kiến của họ , nhất là khi họ nhất trí.

#3.Tất những người mà luật đòi phải có sự ưng thuận hay phải cho ý kiến đều có nghĩa vụ bài tỏ ý kiến  của họ một cách thành thật , và nếu tầm quan trọng của sự việc đòi hỏi , họ phải cẩn thận giữ bí mật ,là nghĩa vụ mà Bề Trên có 1 thể đòi hỏi họ.

Điều 128

Bất cứ ai gây ra một thiệt hại cho người khác cách bất hợp pháp bằng một hành vi  pháp lý hay bằng một hành vi nào khác được thực hiện với sự man trá hay lầm lẫn, thì buộc phải bồi thường thiệt hại đã gây ra

 

 

 

ĐỀ MỤC 8: QUYỀN LÃNH ĐẠO

Điều 129

 #1. Những ngừơi có năng cách  giữ quyền lãnh đạo  trong Giáo Hội  là quyền do thiên định và cũng được gọi là những người đã lãnh nhận chức thánh .

#2. Các Giáo dân có thể cộng tác vào việc hành sử quyền này chiếu theo nguyên tắc của luật .

Điều 130

Quyền lãnh đạo tự nó được hành sử ở toà ngoài , nhưng đôi khi chỉ được hành sử ở toà trong mà thôi , do đó những hiệu quả mà việc hành sử quyền ấy phát sinh ở toà ngoài thì không được toà nầy công nhận , trừ khi luật ấn định điầu đó trong những trường hợp đã được xác định .

Điều 131

#1. quyền lãnh đạo được gọi là thường quyền khi nó được gắn liền với một giáo vụ do chính luật;được gọi là quyền thừa uỷ , khi nó được ban cho một người không qya trung gian của một giáo vụ .

#2.Thường quyền có thể hoặc là quyền riêng hoặc là quyền thay thế .

#3 Người nào quả quyết mình có quyền thừa uỷ , thì buộc phải chứng minh việc uỷ quyền ấy .

Điều 132

#1 .Các năng quyền thường xuyên  được chi phối do những quy định về quyền thừa ủy .

#2. Tuy nhiên, một năng quyền  thường xuyên được ban cho một Đấng Bản Quyền sẽ không chấm dứt khi vị ấy hết quyền , ngay cả khi vị ấy đã bắt đầu hành sử quyền đó , nhưng năng quyền ấy  chuyển sang bất cứ Đấng Bản Quyền nào kế vị trong chức vụ lãnh đạo , trừ khi luật đã minh nhiên dự liệu cách khác trong chính hành vi ban năng quyền , hoặc nếu bản thân được chọn  vì phẩm cách cá nhân .

Điều 133

#1 Người được ủy quyền sẽ hành động vô hiệu , nếu vượt quá giới hạn được uỷ  nhiệm có liên quan đến các sự vật hoặc đến các nhân sự.

#2Người được ủy quyền vẫn làm trọn  những gì đã được uỷ nhiệm dù theo một phương thức khác không được xác định trong ủy nhiệm  thư , thì không vượt quá giới hạn được uỷ nhịêm của mình ,trừ khi chính người ủy nhiệm đã quy định phương thức phải làm để thành sự.

Điều 134

#1. Trong luật Đấng Bản Quyền ám chỉ , ngoài Đức Giáo Hoàng ra, Giám  Mục giáo phận và các vị lãnh đạo môt Giáo Hội  địa phương hay một cộng đoàn  tương đương với Giáo Hội địa phương , dấu chỉ là tạm thời , chiếu theo quy tắc của đìều 368, cũng như những vị có quyền hành pháp tổng quát thông thường  trong các nơi ấy , tức là các vị  Tổng Đại Diện ,các vị Đại Diện Giám  Mục:lại nữa. Các Bề Trên cấp cao của các hội dòng giáo sĩ thuộc luật giáo hoàng và các tu đoàn tông đồ giáo sị thuộc luật giáo hoàng , là nh74ng vị nắm giữ  ít là quyền hành  pháp thông thường đối với các thành viên của mình.

#2.Đấng Bản Quyền địa phương ám chỉ tất cả những vị  được liệt kê #1, trừcác vị Bề Trên của các hội dòng và của các tu đoàn tông đồ.

#3.Những gì các điều luật gán đích danh cho Giám mục giáo phậntrong phạm vi quyền hành pháp thì được coi là chỉ thuộc thẩm quyền Giám Mục giáo phận và các vị tương đương với Giám Mục theo điều 381 #2; chú không thuộc thẩm quyền vị Tổng Đại Diện là vị  Đại Diện Giám Mục , trừ khi các vị này có uỷ nhiệm  thư  đặc biệt .

Điều 135

# 1.Quyền lãnh đạo được phân chia thành quyền lập pháp , hành pháp và tư pháp .

#2. Quyền lập pháp phải được hành sử theo thể thức do luật quy định , và quyền lập pháp do một nhà lập pháp dưới quyền bính tối cao nắm giữ thì không thể được uỷ quyền cách thành sự , trừ khi luật đã minh nhiên dự liệu cách khác, nhà lập pháp cấp dưới không thể ban hành  cách thành sự một luật trái  ngược với luật cấp trên đã ban .

#3 Quyền tư pháp của các thẩm phán  hay của các thẩm phán đoàn phải được hành sử  theo thể thức theo thể thức do luật quy định , và không thể được ủy  quyền , trừ khi để hoàn thành các hành vi chuẩn bị  cho một sắc lệnh hoặc một bản án .

#4 Còn việc hành sử quyền hành pháp , phải  giữ những quy định của các điều khoản sau đây.

Điều136

Người có quyền hành pháp , ngay khi ở ngoài địa hạt của mình , vẫn có thể hành sử quyền ấy đối với các người thuộc quyền, cả khi họ vắng  mặt khỏi địa hạt , trừ khi thấy rõ cách khácdo bản chất sự việc hoặc do quy định của luật , người này cũng có thểthi hành quyền ấy đối với những lữ khách hiện đang cư ngụ trong địa hạt của mình, nếu liên quan đến việc ban ân huệ  hoặc thi hành những luật phổ quát hoặc luật địa phương mà họ buộc phải  giữ chiếu theo quy tắc của điều 13 #2, 20

Điều 137

#1. Quyền hành pháp thông thường có thể được thừa ủy đối với một hành vi riêng biệt hoặc đối với một tập hợp , trừ khi luật đã minh nhiên dự liệu cách khác.

#2 Quyền hành pháp được Tông Toà  thừa uỷ có thể được chuyển ủy đối với một hành vi  riêng biệt  hoặc với một tập hợp  các trường hợp , trừ khi đuơng sự được chọn vì các phẩm cách cá nhân , hoặc việc chuyển uỷ đã minh nhiên bị cấm.

#3.Quyền hành pháp được thừa uỷ do một quyền bính khác có thường quyền bính khác có thường quyền , nếu đã đượcthừa uỷ đối với  một tập các trường hợp , thì chỉ có thể được chuyển uỷ đối với từng trường hợp một , còn nếu quyền hành pháp đã được thừ uỷ đối với một hành vi riêng biệthoặ cho nhiều hành vi nhất định , thì không thể được chuyển uỷ , trừ khi vị uỷ quyền minh nhiên ban phép .

#4. Không một quyền nào đã được chuyển uỷ , lại  có thể được chuyển uỷ lần nữa , trừ khi vị uỷ quyền minh nhiên cho phép .

Điều 138

Quyền hành pháp thông thườngvà quyền thừa uỷ đối với một tập hợp các trường  hợp  phải được giải thích theo nghĩa rộng , còn những quyền khác phải được gải thích theo nghĩa hẹp ; tuy nhiên người nào được thừa uỷ một quyền nào đó thì cũng được hiểu là họ đã được ban  những năng quyền cần thiết để hành sử quyền ấy .

Điều 139

#1 Trừ khi luật đã ấn định cách khác , việc một người nại đến  một hà chức trách có thẩm quyền nào đó ,dù là nhà chức trách có thẩm quyền nào đó , dù là nhà chức trách cấp trên không định chỉ quyền hành pháp thông thường  hoặc thừa uỷ của một nhà chức trách có thẩn quyền .

#2 .Tuy nhiên , một nhà chức trách  cấp dưới không nênxen vào công đã được trình lên một nhà chức trách cấp trên , trừ khi có một lý do nghiêm trọng và khẩn cấp ; trong trường hợp này , nhà chức trách cấp dưới phải tức khắc báo cho nhà chức trách cấp trên biết.

Điều 140

#1. Khi nhiều người đã được thùa uỷtheo cách lên đới để làm  cùng một công việc , người nào đã được khởi sự làm trứoc, thì sẽ loại trừ những người khác khỏi công việc đó , trừ khi sau đó ngừời ấy bị cản trở hoặc không muốn tiếp tục làm nữa.

#2 Khi nhiều người đã đựoc thừa uỷ theo cách hiệp đoàn để làm một công việc , thì mọi người đều phải làm chiếu theo quy tắc của điều 119, trừ khi uỷ nhiệm thư đã dự liệu cách khác

#3.Một quyền hành pháp  đựợc thừa uỷ cho nhiều người , thì được suy đoán là đã được thừa uỷ cho họ cách liên đới.

Điều 141

Khi có nhiều người  người thừa uỷ kế tiếp nhau , người phải giải quyết công việc là  người nhận được uỷ nhiệm  thư trước hr61t và uỷ nhiệm thư trước  hết và uỷ nhiệm thư đó chưa bị thu hồi .

Điều 142

 #1. Quyền thừa uỷ chấm dứt khi đã hoàn tất việc uỷ nhiệm , khi thời hạn đã mãn hay khi đã hết số trường hợp đã được thừa uỷ ; khi mục đích của việc  thừa uỷ không còn nữa ; khi người thừa uỷ trực tiếp  thông báo cho người được thừa uỷ biết lệnh thu hồi , cũng như khi người thừa uỷ biết là mình từ chối sự uỷ nhiệm và sự từ chối  này đã được người thừa uỷ chấp nhận ; nhưng việc thừa uỷ he61tquye62n , trừ khi thấy rõ điều đó trong những điều khoảng đính kèm.

#2. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào một quyền  thừa uỷ chỉ được thi hành bởi toà trong mà thôi , người được thừa uỷ hoàn thành một hành vi vì vô ý , khi thời hạn uỷ nhiệm đã mãn , thì hành vi đó vẫn thành sự .

Điều143

#1. Thường quyền chấm dứt khi giáo vụ gắn liền  với quyền ấy bị mất.

#2Trừ  khi luật dự liệu cách khác, thường xuyên bị đình chỉ, nếu có kháng cáo hay thượng cầu hợp pháp chống lại việc bãi nhiệm hay giãi nhiệm.

Điều 144

#1. Khi có lầm lẫn chung hoặc về sự kiện  hoặc về luật , cũng như khi có hồ nghi tích cực và hợp lý  hoặc về luật hoặc về sự kiện, thì Giáo Hội bổ khuyết quyền hành  pháp lãnh đạo ở toà trong  lẫn toà ngoài .

#2. Quy tắc này cũng được áp dụng cho những năng quyền được nói đến ở những điều  882,883 ,966.và 1111 #1 .

 

 

 

ĐỀ MỤC 9: GIÁO VỤ

Điều 145

#1. Giáo vụ là bất cứ nhiệm vụ nào đã được thiết lập một cách bền vững  hoặc do ý định của Thiên Chúa hay của Giáo Hội  để được thi hành  nhằm mục đích thiêng liêng.

# 2. Những nghĩa vụ và những quyền lợi riêng của từng giáo vu5d9u7o75c ấn định hoặc chính luật thiết lập  giáo vụ hoặc do sắc lệnh của nhà chức trách có thẩm quyền vừa thiết lập vừa trao ban giáo vụ ấy.

 

 

 

CHƯƠNG 1: BỔ NHIỆM VÀ GIÁO VỤ

Điều  146

Giáo  vụ không thể được thủ đắc cách thành sự nếu không có sự bổ nhiệm theo giáo luật.

Điều 147

Việc bổ nhiệm  vào một giáo vụ được thực hiện do sự tự ý  trao ban của nhà  chức trách  có thẩm quyền của Giáo Hội , do sự cắt đặt  của nhà chức trách  đó sau khi được giới thiệu , do sự chuẩn y  của nhà chức trách đó  sau khi cầu cử hoặc do sự chấp nhận của nhà chức trách đó sau khi thỉnh cử , và sau hết , do việc bầu cử đơn thường và do sự chấp nhận của người đắc cử , nếu việc bầu cử  không cần được chuẩn y .

Điều 148

Việc bổ nhiệm vào giáo vụ thuộc thẩm quyền nhà chức trách  nào thiết lập , canh tân và bãi bỏ giáo vụ , trừ khi luật đã ấn định cách khác.

Điều 149

#1 Để có thể đề cử vào một giáo vụ , đương sự phải thông hiệp với Giáo Hội  và có khả năng xứng hợp , nghĩa là hội đủ những đức tính mà luật phổ quát hay luật địa phương hoặc luật thành lập đòi phải có đối với giáo vụ ấy .

#2 Việc bổ nhiệm một người thiếu những đức tính cần thiết vào một giáo vụ chỉ vô hiệu khi luật phổ quat1hay luật địa phương  hoặc luật thành lập minh nhiên đòi phải  có để  việc bổ nhiệm  được hữu hiệu , bằng không , việc bổ nhiệm vẫn thành sự, nhưng có thể bị huỷ bỏ  do sắc lệnh  của nhà chức trách có thẩm quyền hoặc do bản án của toà án  hành chính .

#3. Việc bổ nhiệm  vào một giáo vụ do mại thánh , đương nhiên là vô hiệu .

Điều 150

Một giáo vụ hàm chứa toàn bộ việc coi sóc các linh hồn mà việc chu toàn giáo vụ này  đòi phải thi hành chức tư tế , thì không thể trao ban cách hữu hiệu cho người chưa có chức ấy .

Điều 151

Không được trì hoãn việc bổ nhiệm vào một giáo vụ hàm chứa việc coi sóc các linh hồn , khi không có lý do nghiêm trọng .

Điều 152

Không được trao cho ai hai nhiều giáo vụ không tương hợp với nhau , nghĩa là những giáo vụ không thể được chu toàn trong cùng một lu1cva2 do cùng một người.

Điều 153

#1Việc bổ nhiệm vào một giáo vụ  không khuyết vị theo luật thì đương nhiên vô hiệu , và không trở thành  hữu hiệu do sự khuyết vị sau đó .

#2. Tuy nhiên, nếu là một giáo vụ được trao ban trong một thời gian nhất định  chiếu theo luật , thì việc bổ nhiệm  có thể được thực hiện tr5ong vòng sáu tháng trước khi hết hạn , và có hiệu lực kể từ ngày  giáo vụ khuyết vị .

#3. Lời hứa ban một giáo vụ của bất cứ người nào không có một hiệu lực pháp lý nào cả .

Điều 154

Một giáo vụ khuyết vị  chiếu theo luật vẫn đang bị chiếm giữ cách bất hợp pháp có thể được trao ban , miễn là đã hợp thức tuyên bố rằng việc chiếm giữ trên là bất hợp pháp , và phải ghi lời tuyên bố đó trong văn thư trao ban.

Điều 155

Người nào thay thế một người  lơ đễnh hay bị cản trở để trao ban một giáo vụ , thì không gì thế mà có một quyền hành nào trên người đã nhận giáo vụ , nhưng tình trạng pháp lý của người này được thiết lập thích đáng như thể là việc bổ nhiệm đã được thực hiện chiếu theo quy tắc thông thường của luật.

Điều 156

Việc bổ nhiệm vào bất cứ giáo vụ nào phải được ghi trong  văn bản .

 

 

 

 

TIẾT 1: TỰ Ý TRAO BAN

Điều 157

Nếu luật không minh nhiên ấn định cách khác , việc bổ nhiệm vào những giáo vụ trong Giáo Hội địa phương qua việc tự ý trao ban  thuộc về Giám  Mục giáo  phận.

 

 

 

TIẾT 2: GIỚI THIỆU

Điều 158

#1. Người nào có quyền giới thiệu vào một giáo vụ  thì phải giới thiệu lên nhà chức trách có quyền bổ nhiệm vào giáo vụ đó trong vòng ba tháng , kể từ khi biết tin giáo vụ  khuyết vị , trừ khi đã đượcquy định cách hợp pháp .

#2 Nếu có quyền giới thiệu  thuộc về một hiệp đoàn hay một nhóm người , thì việc chỉ định người được giới thiệu phải được tiến hành theo những quy định của các điều 165-179.

Điều 159

Không được giới thiệu ai khi họ không muốn , vì thế , người được đề nghị có thể được giới thiệu , nếu họ không từ chối trong vòng tám ngày hữu dụng , sau khi đã được hỏi ý kiến.

Điều 160

#1 Người nào có quyền giới  thiệu thì có thể giới thiệu một hay nhiều người  hoặc cùng một lúc hoặc kế tiếp nhau .

# 2 Không ai có thể tự giới thiệu mình , nhưng một hiệp đoàn hay một nhóm người có thể giới thiệu một trong những thành viên của mình.

Điều 161

#1. Nếu luật không ấn định cách khác , ai đã giới thiệu một người  bị nhận xét  là không có khả năng xứng hợp , thì có thể giới thiệu  môy người khác trong vòng môt tháng , nhưng chỉ một lần mà thôi .

#2. Nếu người được giới thiệu  từ chối hoặc qua đời trước khi được bổ nhiệm , thì người có quyền giới thiệu  có thể sử dụng quyền của mình  một lần nữa trong vòng một tháng , kể từ khi biết tin người đó từ chối hoặc qua đời .

Điều 162

Người nào trong thời hạn hữu dụng chiếu theo các điều 1858 #1 và161 , đã không giới thiệu , cũng như nguời nào đã hai lần  giới thiệu một người bị nhận xét là không có khả năng xứng hợp,thì mất quyền giới thiệu  trong trường hợp này ; và nhà chức trách nào có nhiệm vụ bổ nhiệm  và giáo vụ khuyết vị , nhưng phải được Đấng  Bản Quyền riêng của người được bổ nhiệm đồng ý .

Điều 163

Nhà chức trách nào , chiếu theo quy tắc của luật có nhiệm vụ bổ nhiệm  người đã được giới thiệu ,thì phải bổ nhiệm người đã được giới thiệu cách hợp pháp mà họ nhận xét là có khả năng xứng hợp và đã chấp nhận ; còn nếu nhiều người được giới thiệu  cách hợp pháp đều  được nhận xét là có khả năng xứng hợp , thì nhà chức trách ấy phải bổ nhiệm một trong những người đó.

 

 

 

TIẾT 3: BẦU CỬ

Điều 164

Trừ khi luật đã dự liệu cách khác , phải giữ những quy định của các điều khoản sau đây trong các cuộc bầu cử theo giáo luật .

Điều 165

Trừ khi lụât hay quy chế hợp pháp của hiệp đoàn hoặc của nhóm đã dự liệu cách khác , nếu một hiệp đoàn  hay một nhóm người nào có quyền bầu cử vào một giáo vụ , thì  không được hoãn việc bầu cử quá ba tháng hữu dụng tính từ khi biết tin giáo vụ khuyết vị ; khithời hạn ấy trôi qua vô ích , thì nhà chức trách Giáo Hội có quyền chuẩn y việc bầu cử hay nhà chức trách Giáo Hội có quyền bổ nhiệm kế tiếp phải tự ý bổ nhiệm vào giáo vụ  khuyết vị.

Điều 166

#1 Chủ tịch hiệp đoàn  hoặc nhóm phải triệu tập mọi người thuộc hiệp đoàn hay thuộc nhóm ; nhưng khi mang tính cách cánhân , thì việc triệu tập có giá trị , nếu được thực hiện  tại nơi họ có cư sở hay bán cư sở nơi họ cư ngụ .

#2 Nếu một người nào đó trong số những người phải được triệu tập bị bỏ sót cho nên vắng mặt , thì việc bầu cử vẫn hữu hiệu , tuy nhiên , theo lời yêu cầu của đương sự , với điều kiện là có bằng chứng về sự bỏ sót và sự vắng mặt , thì nhà chức trách có thẩm quyền phải hủy bỏ việc bầu cử , dù đã được chuẩn y , miễn là phải rõ ràng theo pháp lý và việc khiếu nại đã được chuyển đi  trễ nhất là ba ngày , kể từ khi biết có cuộc bầu cử .

#3 Nếu hơn một phần ba cử tri bị bỏ sót , cuộc bầu cử đương nhiên vô hiệu , trừ khi mọi người  bị bỏ sót đã thực sự có  mặt.

Điều 167

#1. Sau khi đã được triệu tập cách hợp pháp , những người hiện diện đúng ngày và đúng nơi đã được ấn định trong lệnh triệu tập có quyền có bỏ phiếu qua thư hay qua người đại diện, trừ khi quy chế đã dự liệu cách khác hợp pháp .

#2 Nếu một người nào đó trong số các cử tri hiện diện tại nhà diễn ra cuộc bầu cử , nhưng không tham dự cuộc bầu cử được vì lý do sức khoẻ , thì những người kiểm phiếu phải thu phiếu do người ấy viết.

Điều 168

Dù một người có quyền nhân danh cá nhân mình bỏ phiếu với nhiều danh nghĩa , họ cũng chỉ có thể được chấp nhận cho bỏ phiếu nếu không thuộc về hiệp đòan hay nhóm .

Điều 170

Cuộc bầu cử đương nhiên vô hiệu , nếu trong đó tự do đã thực sự bị cản trở bằng bất cứ cách nào .

Điều 171

#1. Không có tư cách để bỏ phiếu .

10người không có khả năng thực hiện một hành vi nhân linh :

20người không có quyền bầu cử ;

30người bị tuyên kết hay tuyên bố vạ tuyệt thông , hoặc do bản án của toà án , hoặc do sắc lệnh ;

40người đã hiển nhiên lìa bỏ sự hiệp thông với Giáo Hội.

#2. Nếu một trong những người kể trên được chấp nhận cho bỏ phiếu , thì phiếu của người ấy không có giá trị , nhưng cuộc bầu cử vẫn hữu hiệu , trừ khi thấy rõ người đắc cử sẽ hội đủ số phiếu cần thiết , nếu loại phiếu ấy ra .

Điều 172

#1 Để thành sự ,phiếu phải  là:

10phiếu tự do : cho nên người nào do sợ hãi nghiêm trọng hoặc do man trá bị ép buộc trực tiếp hay gián tiếp phải bầu một người nhất định hoặc hiều người riêng rẽ, thì phiếu của người ấy vô giá trị ;

20phiếu kín, chắc chắn , tuyện đối, xác định .

#2 Các điều kiện đã được đặt ra cho việc bỏ phiếu trước khi bầu cử đều phải được coi như không có .

Điều 173

#1 Trứơc khi cuộc bầu cử bắt đầu , phải chỉ định ít nhất là hai người kiểm phiếu trong số những thành viên của hiệp đoàn hay của nhóm .

#2Người kiểm phiếu phải thu phiếu và kiểm tra trước mặt vị chủ toạ cuộc bầu cử xem số phiếu có đúng với số cử tri không , sau đó kiểm phiếu và công bố mỗi người được bao nhiêu phiếu.

#3Nếu số phiếu vượt  quá số người bỏ phiếu , thì cuộc bầu cử đó vô giá trị.

#4 Tất cả mọi văn bản của cuộc bầu cừ phải được người giữ  nhiệm vụ ghi chép cẩn thận , ít nhất phải có chữ ký của ngườiấy của vị chủ toạ và của các người kiểm phiếu, và phải được lưu trữ cẩn mật trong văn khố của hiệp đoàn.

Điều 174

#1 Trừ khi luật hoặc quy chế đã dự liệu cách khác ,cuộc bầu cử cũng có thể được thực hiện  bằng cách hiệp thương, miễn là các cử tri nhất trí thoả thuận  với nhau bằng văn bản để chuyển nhượng quyền  bầu cử lần ấy cho một hay nhiều người có khả năng xứng hợp hoặc thuộc về hiệp đoàn , hoặc ở ngoài hiệp đoàn , những người đó sẽ bầu cử nhân danh mọi người ,do năng quyền đã được lãnh nhận .

#2 Trong trường hợp một hiệp đoàn hoặc một nhóm chỉ gồm các giáo sĩ mà thôi , thì những người được chuyển nhượng quyền bầu cử phải có chức thánh; bằng không, cuộc bầu cử sẽ vô giá trị .

#3 Những người được chuyển nhượng quyền bầu cử phải tuân theo những quy định của luật về bầu cử , và phải giũ các điều kiện không trái ngược với luật được đặt ra cho việc hiệp thương, để cuộc bầu cử được hữu hiệu ; còn những điều kiện trái ngược với luật phải được coi như không có.

Điều 175

Việc hiệp thương chấm dứt và quyền bỏ phiếu trả về cho những người chuyển nhượng quyền :

10do hiệp đoàn hay do nhóm thu hồi trước khi bắt đầu thi hành ;

20do không thi hành một điều kiện nào đó được đặt racho việc hiệp thương ;

30do cuộc bầu cử đã xong , nhưng vô hiệu.

Điều 176

Trừ khi luật hay quy chế đã dự liệu cách khác, người nào đạt được số phiếu cần thiết , thì được coi như đắt cử  và vị chủ tịch hiệp đoàn hay nhóm phải tuyên bố như vậy , chiếu theo quy tắc của điều 119,10

Điều 177

#1 Việc bầu cử phải được thông báo ngay cho người đắc cử ; người này phải  cho  vị chủ tịch hiệp đoàn hoặc nhóm biết mình có chấp nhận hay không trong vòng  tám ngày hữu dụng , kể từ khi nhận được thông báo ;nếu không , việc bầu cử sẽ  không có hiệu lực .

#2. Nếu người đắc cử không chấp nhận , thì họ sẽ mất mọi  quyền lợi bắt nguồn từ việc bầu cử,dù sau đó có chấp nhận , họ cũng không lấy lại được những quyền ấy ,nhưng họ có thể được bầu lại ; hiệp đoàn hay nhóm phải tiến hành một cuộc bầu cử  khác trong vòng một tháng , kể từ khi biết ti n người đắc cử không chấp nhận.

Điều 178

Ngay sau  khi chấp nhận việc bầu cử , người đắc cử giữ giáo vụ ngay với đầy đủ mọi quyền lợi ,nếu việc bầu cử không cần được chuẩn y; bằng  không , họ chỉ được quyền nhận giáo vụ.

Điều179

#1.Nếu việc bầu cử  cần phải được chuẩn y, thì người đắc cử phải  đích thân hoặc nhờ người khác  xin nhà chức trách có thẩm quyền chuẩn y trong vòng tám ngày hữu dụng , kể từ khi chấp nhận việc bầu cử ;bằng không họ sẽ mất mọi quyền lợi , trừ khi họ chứng minh được rằng mình chưa xin chuẩn y đượcvì có một ngăn trở chính đáng .

#2 .Nếu thấy đắc cử có khả năng xứng hợp chiếu theo quy tắc của điều 149 31, và nếu việc bầu cử  đã được thực hiện đúng luật, thì nhà chức trách có thẩm quyền không thể từ chối việc chuẩn y.

# 3. Việc chuẩn y phải được viết trên giấy tờ.

# 4. Trước khi nhận được văn thư chuẩn y, người đắc cử không được phép  xen mình vào việc thi hành giáo vụ về mặt thiêng liêng hoặc về mặt vật chất , và giả như họ có thực hiện hành vi nào , thì hành vi đó sẽ vô hiệu .

#5.Ngay sau khi nhận đượcvăn thư chuẩn y , người đắc cử đương nhiên giữ giáo vụ , trừ khi luật đã dự liệu cách khác .

 

 

 

TIẾT 4: THỈNH CỬ

Điều 180

#1. Nếu người và các cử tri nhận thấy có khả năng hơn và họ ưng ý hơn , lại mắc một ngăn trở theo giáo ;uật và ngăn trở ấy có thể được miễn chuẩn và thường được miễn chuẩn , thì họ có thể thỉnh cử người ấy lên thẩm quyền  qua lá phiếu của mình , trừ khi luật định cách khác.

#2. Những người được chuyển nhượng  quyền bầu cử không thể thỉnh cử , trừ khi điều đó đã được ghi trong bản hiệp thương.

Điều181

#1 .Để việc thỉnh cử được hữu hiệu , cần phải có ít là hai phần ba tổng số phiếu bầu .

#2. Phiếu thỉnh cử phải được diễn tả bằng những từ:tôi thỉnh cử, hoặc bằng những từ tương đương ; công thức:tôi bầu hay tôi thỉnh cử, hoặc công thức tương đương , có giá trị cho việc bẩu cử nếu không có ngăn trở;còn nếu ngăn trở , thì có giá trị cho việc  thỉnh  cử.

Điều 182

#1. Vị chủ tịch phải chuyển đạt sự thỉnh cử lên nhà chức trách  có thẩm quyền chuẩn y việc bầu cử trong vòng tám ngày hữu dụng :nhà chức trách này miễn chuẩn ngăn trở, hoặc nếu kgho6ng có quyền miễn chuẩn này , thì xin nhà chức trách cấp trên miễn chuẩn ;việc chuẩn y không ca62nthie61t , thì sự thỉnh cử phải được gửi lên nhà chức trách có thẩm quyền để được miễn chuẩn .

#2.Nếu sự thỉnh cử không được chuyển đạt trong thời hạn đã được ấn định , thì đương nhiên vô hiệu , và lần này , hiệp đoàn hoặc nhóm mất quyền bầu cử hoặc thỉnh cử , trừ khi chứng minh được rằng vị chủ tịch đã không chuyển đạt thỉnh cử vì một ngăn trở chínhnđáng ; hoặc đã không chuyển đạt sự thỉnh cu73vi2 một ngăn trở chính đáng ; hoặc đã không chuyển đạt sự thỉnh cử đúng thời ha5hn vì man trá hay vì lơ đễnh .

#3. Sự thỉnh cử không đem lại quyền lợi  nào cho người được thỉnh cử ; nhà chức trách có thẩm quyền  không buộc phải chấp nhận việc thỉnh cử.

#4. Các cử tri không thể rút lại  sự thỉnh cử đã được chuyển đạt lên nhà chức trách ấy .

Điều 183

#1. Nếu nhà chức trách có thẩm quyền  không chấp nhận sự thỉnh cử , quyền bầu cử lại thuộc về hiệp đoàn hoặc nhóm .

#2.Nếu sự thỉnh cử đã được chấp thuận , phải thông báo cho người  được thỉnh cử biết , người này phải trả lời chiếu theo quy tắc của điều 177 #1

#3 .Người nào ưng thuận thỉnh cử đã được chấp thuận, thì giữ giáo vụ ngay với đầy đủ mọi quyền lợi.

 

 

 

CHƯƠNG 2: CHẤM DỨT GIÁO VỤ

Điều184

#1 . Một giáo vụ chấm dứt do mãn thời hạn đã được ấn định , do đã đến tuổi luật định , do từ nhiệm , do thuyên chuyển , do giải nhiệm và do bãi nhiệm .

#2. Giáo vụ không chấm dứt khi nhà chức trách đã trao ban một giáo vụ hết quyền dưới bất cứ hình thức nào , nếu luật không dự liệu cách khác.

#3 .Khi việc chấm dứt giáo vụ  đã có hiệu lực, phải thông báo sớm hết sức cho tất cả những người có quyền trong việc bổ nhiệm giáo vụ.

Điều 185

Tước hiệu danh dự có thể được tặng cho người đã chấm dứt giáo vụ do quá hạn tuổi , hoặc do sự từ nhiệm đã được chấp nhận.

Điều186

Việc chấm dứt giáo vụ do mãn thời hạn đã được ấn định hay do quá hạn tuổi chỉ có hiệu lực từ  khi nhà chức trách có thẩm quyền thông báo điều đó  bằng văn thư.

 

 

 

TIẾT 1: TỪ NHIỆM

Điều 187

Bất cứ ai còn làm chủ được bản thân mình đều có thể từ bỏ một giáo vụ vì một lý do chính đáng .

Điều 188

Việc từ nhiệm do một sự sợ hãi  nghiêm trọng phải chịu cách bất công , do man trá hay do lầm lẫn về bản thể , hoặc do mại thánh , thì đương nhiên vô hiệu .

Điều 189

#1 Dù có cần được chấp thuận hay không , đơn xin từ nhiệm phải đượcđệ nạp lên  thẩm quyền có quyền bổ nhiệm vào giáo vụ  và phải được thực hiện bằng giấy tờ hoặc bằng miệng trước mặt hai nhân chứng , thì mới hữu hiệu .

#2. Nhà chức trách không nên chấp thuận một sự từ nhiệm không dựa trên một lý do chính đáng và cân xứng .

#3. Nếu việc từ nhiệm  nào đòi hỏi sự chấp thuận mà không được chấp thuận trong vòng ba tháng thì việc từ nhiệm đó không có hiệu lực ; còn việc từ nhiệm nào  không đòi hỏi sự chấp thuận thì có hiệu lực ngay , khi người từ nhiệm thông báo điều đó chiếu theo quy tắc của luật.

#4. Bao lâu việc từ  nhiệm  chưa có hiệu lực , người từ nhiệm có thể rút lại sự từ nhiệm; khi đã có hiệu lực rồi , thì không thể rút lại được nữa, nhưng người từ nhiệm có thể xin giữ giáo vụ với một danh nghĩa khác.

 

 

 

TIẾT 2: THUYÊN CHUYỂN

Điều 190

#1.Việc thuyên chuyển  chỉ có thể được thực hiện do người có quyền bổ nhiệm vào giáo vụ đã được chấm  dứt cũng như vào giáo vụ được trao ban.

#2.Nếu việc thuyên chuyển  trái với ý muốn của người đang giữ giáo vụ , thì cần phải có môt lý do nghiêm trọng và phải tuân giữ thủ tục do luật  quy định , miễn là đương sự phải  luôn luôn có quyền trình bày những lý do ngược lại.

#3.Để có hiệu lực , việc thuyên chuyển phải được thông báo bằng văn bản .

Điều 191

#1. Trong những trường hợp thuyên chuyển , giáo vụ cũ trở thành khuyết vị do việc nhận chức trong giáo vụ mới theo đúng luật định , trừ khi đã dự liệu  cách khác hoặc nhà chức trách có thẩm quyền quy định cách khác.

#2. Người được thuyên chuyển vẫn hưởng lương bổng gắn liền với giáo vụ cũ, cho tới khi nhận chức trong giáo vụ mới theo đúng luật định.

 

 

 

TIẾT 3: GIẢI NHIỆM

Điều 192

Một người bị giải nhiệm do sắc lệnh được nhà chức trách  có thẩm quyền ban hành cách hợp pháp , miễn là vẫn được giữ nguyên những quyền lợi đã thủ đắc do khế ước, hay do chính luật chiều theo quy tắc của điều 194.

Điều 193

#1 .Không thể giải nhiệm một người được trao ban giáo vụ với  một thời hạn vô định , trừ khi có những lý do nghiêm trọng,và phải tuân giữ thủ tục do luật quy định .

#2. Điều trên cũng có giá trị đối việc giải nhiệm một  người được trao ban  giáo vụ với một thời gian xác định trước khi mãn hạn , miễn là vẫn giữ nguyên nhưng quy định của điều 624 #3.

#3. Nhà chức trách có thẩm quyền đã trao ban giáo vụ cho người nào chiếu theo  những quy định của luật, thì có thể giải nhiệm người ấy vì một lý do chính đáng , theo sự suy xét thận trọng của mình .

#4 .Để có hiệu lực,sắc lệnh giải  nhiệm  phải  được thông báo bằng văn bản.

Điều 194

#1. Do chính luật, bị giải nhiệm khỏi giáo vụ:

10 người đã mất bậc giáo sĩ;

20người đã công khai từ bỏ đức tin Công giáo , hoặc không còn hiệp thông với Giáo Hội;

30giáo sĩ mưu toan kết hôn, dù chỉ là hôn nhân theo luật dân sự.

#2. Chỉ có thể thúc bách việc giải nhiệm được nói đến ở 20 và 30, nếu chắc chắn nhà chức trách  có thẩm quyền đã công bố việc đó.

Điều 195

Nếu một người bị giải nhiệm không phải do luật nhưng do sắc lệnh của nhà chức trách có thẩm quyền khỏi một giáo vụ đang đảm bảo đời sống của mình , thì nhà chức trách ấy phải lo liệu trợ cấp cho đương sự trong một thời gian thích hợp , trừ khi đã dự liệu cách khác.

 

 

 

TIẾT 4: BÃI NHIỆM

Điều 196

#1. Sự bãi nhiệm , như hình phạt dành cho một tội phạm , chỉ có thể được thực hiện chiếu theo quy tắc của luật.

#2. Việc bãi nhiệm có có hiệu lực chiếu theo những quy định của các điều trong luật hình sự.

 

 

 

ĐỀ MỤC 10: THỜI HIỆU

Điều197

Giáo Hội chấp nhận  thời hiệu , xét như là phương thế để thủ đắc hay tiêu huỷ một quyền lợi  chủ quan  hoặc để toát khỏi những nghĩa vụ , như sẵn có trong luật dân sự của mỗi nước , miễn là vẫn giữ nguyên những điều ngoại lệ đã được ấn định trong Bộ Luật này.

Điều 198

Không thời hiệu nào có hiệu lực, nếu không dựa trên sự ngay tình , chẳng những lúc khởi đầu , nhưng còn suốt thời gian mà thời hiệu đòi hỏi , miễn là vẫn giữ nguyên những quy định của điều 1362.

Điều 199

Không bị lệ thuộc thời  hiệu:

10 những quyền lợi và nghĩa vụ thuộc thiên luật tự nhiên hay thiết định;

20những  quyền lợi chỉ có thể được thủ đắc do đặc ân tông Toà ;

30 những quyền lợi và ngĩa vụ liên hệ trực tiếp đến đời sống thiêng liêng của cá Kitô hữu;

40ranh giới chắc chắn và không nghi ngờ của các địa hạt Giáo Hội;

50các bổng lễ và nghĩa vụ dâng lễ;

60việc bổ nhiệm vào giáo vụ chiếu theo quy tắc của luật đòi hỏi việc thi hành chức thánh;

70quyền kinh lý và nghĩa vụ vâng phụcđến nỗi các Kito hữu không còn được nhà chứ trách Giáo Hội nào thăm viếng nữa và họ cũng không tùng phục môt nhà chức trách Giáo Hội nữa.

 

 

 

ĐỀ MỤC 11: CÁCH TÍNH THỜI GIAN

Điều 200

Trừ khi luật đã minh nhiên dự liệu cách khác, thời gian phải được tính chiếu theo quy tắc của các điều khoản sau đây :

Điều 201

#1. Thời gian liên tục hiểu là thời gian không bị gián đoạn .

#2. Thời gian hữu dụng được hiểu là thời gian dành cho một người để thi hành hoặc  để đòi hưởng quyền của mình ,đến nỗi thời gian ấy không qua đi đối với những người không biết hoặc không thể hành động được.

Điều 202

#1.Trong luật , ngày được hiểu là khoảng cách 24giờ đượctính cách liên tục và bắt đầu từ nửa đêm, trừ khi luật đã minh nhiên dự liệu cách khác;tuần là khoảng cách  7 ngày; tháng là khoảng cách 30 ngày và năm là khoảng cách 365 ngày,trừ khi nói rằng tháng và năm phải tính như trong lịch.

# 2.Phải tính tháng và năm như trong lịch,nếu là thời gian liên tục.

Điều 203

#1. Ngày khởi hạn không được tính vào thời hạn , trừ khi lúc bắt đầu của thời hạn ấy trùng với lúc bắt đầu của ngày ,hoặc trừ khi luậtđã minh nhiên dự liệu cách khác.

#2.Nếu luật không ấn định ngược lại, ngày đáo hạn được tính vào thời hạn , nếu thời gian gồm một hay nhiều tháng hoặc năm, một hay nhiều tuần , thì thời hạn chấm dứt vào cuối ngày sau cùng mang cùng một số, hoặc nếu tháng ấy không có ngày mang cùng một số,thì thời hạn châùm dứt vào cuối ngày cuối tháng .

Tin mới hơn
Tin cũ hơn