Học viện thánh thể
 
Học viện thánh thể


LỊCH CG
Thống kê truy cập
Online: 17
Lượt truy cập: 1149457
Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục
GỬI CÁC GIÁM MỤC, LINH MỤC, PHÓ TẾ, TU SĨ VÀ TÍN HỮU GIÁO DÂN VỀ BÍ TÍCH THÁNH THỂ, NGUỒN MẠCH VÀ CHÓP ĐỈNH CỦA ĐỜI SỐNG VÀ SỨ VỤ CỦA HỘI THÁNH.

TÔNG HUẤN HẬU THƯỢNG HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC

SACRAMENTUM CARITATIS

 

CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG BÊNÊĐÍCTÔ XVI

 

 


GỬI CÁC GIÁM MỤC, LINH MỤC, PHÓ TẾ,

 

TU SĨ VÀ TÍN HỮU GIÁO DÂN

 

VỀ BÍ TÍCH THÁNH THỂ,

 

NGUỒN MẠCH VÀ CHÓP ĐỈNH

 

CỦA ĐỜI SỐNG VÀ SỨ VỤ CỦA HỘI THÁNH

Roma 22/02/2007 – 13/3/2007

 

 

ỦY BAN GIÁO LÝ ĐỨC TIN

 

Trực thuộc HĐGMVN, chuyển ngữ

 

DẪN NHẬP [1]

 

Lương thực chân lý [2]

Sự phát triển của nghi thức thánh lễ [3]

Thượng Hội Đồng Giám Mục và Năm Thánh Thể [4]

Mục đích của Tông huấn này [5]

 

 

PHẦN THỨ NHẤT :

 

BÍ TÍCH THÁNH THỂ, MẦU NHIỆM MÀ CHÚNG TA TIN

 

Niềm tin vào Bí tích Thánh Thể của Hội Thánh [6]

 

Mầu nhiệm Ba Ngôi cực thánh và bí tích Thánh Thể

Bánh từ trời ban xuống [7]

Ân huệ nhưng không của Thiên Chúa Ba Ngôi [8]

 

Bí tích Thánh Thể : Chúa Giêsu là Chiên hiến tế đích thực

Giao ước mới và vĩnh cửu trong máu con chiên [9]

Việc thiết lập Bí tích Thánh Thể [10]

Figura transit in veritatem (hình ảnh biến thành sự thật) [11]

 

Chúa Thánh Thần và bí tích Thánh Thể

Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần [12]

Chúa Thánh Thần và việc cử hành thánh lễ [13]

 

Bí tích Thánh Thể và Hội Thánh

Bí tích Thánh Thể, nguyên lý nhân quả của Hội Thánh [14]

Bí tích Thánh Thể và sự hiệp thông trong Hội Thánh [15]

 

Bí tích Thánh Thể và các bí tích

Đặc tính bí tích của Hội Thánh [16]

I. Bí tích Thánh Thể với việc khai tâm kitô giáo

Bí tích Thánh Thể, sự viên mãn của việc khai tâm kitô giáo [17]

Trình tự của các bí tích khai tâm [18]

Khai tâm, cộng đoàn giáo hội và gia đình [19]

II. Bí tích Thánh Thể và Bí tích Giao Hoà

Sự liên hệ nội tại của hai bí tích này [20]

Vài hướng dẫn mục vụ [21]

III. Bí tích Thánh Thể và Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân [22]

IV. Bí tích Thánh Thể và Bí tích Truyền Chức Thánh

Nhân danh Đức Kitô là Đầu (In persona Christi capitis) [23]

Bí tích Thánh Thể và việc độc thân linh mục [24]

Việc thiếu linh mục và mục vụ ơn gọi [25]

Lòng biết ơn và hy vọng [26]

V. Bí tích Thánh Thể và Bí tích Hôn Phối

Thánh Thể, bí tích mang đặc tính hôn nhân [27]

Bí tích Thánh Thể và tính duy nhất của hôn nhân [28]

Bí tích Thánh Thể và đặc tính bất khả phân ly của hôn nhân [29]

 

Bí tích Thánh Thể và Cánh Chung

Bí tích Thánh Thể : quà tặng cho con người đang lữ hành [30]

Tiệc cánh chung [31]

Lời cầu nguyện cho những kẻ đã qua đời [32]

Bí tích Thánh Thể và Đức Trinh Nữ Maria [33]

 

 

PHẦN THỨ HAI :

 

THÁNH THỂ, MẦU NHIỆM ĐƯỢC CỬ HÀNH

 

Luật cầu nguyện (lex orandi) và luật đức tin (lex credendi) [34]

Cái đẹp và phụng vụ [35]

 

Cử hành Thánh Thể, công trình của “Đức Kitô toàn thể” (Christus totus)

Đức Kitô toàn thể nơi đầu và nơi thân mình [36]

Thánh Thể và Đức Kitô phục sinh [37]

Nghệ thuật cử hành (Ars celebrandi) [38]

Giám mục, nhà phụng vụ tiêu biểu nhất [39]

Tôn trọng các sách phụng vụ và sự phong phú của các dấu chỉ [40]

Nghệ thuật nhằm phục vụ cho phụng vụ [41]

Phụng ca [42]

Cấu trúc cử hành Thánh Thể [43]

Sự duy nhất nội tại của hành động phụng vụ [44]

Phụng vụ Lời Chúa [45]

Bài giảng [46]

Dâng lễ vật [47]

Kinh nguyện Thánh Thể [48]

Trao ban bình an [49]

Trao và nhận Thánh Thể [50]

Lời giải tán : “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an” (Ite, missa est) [51]

Sự tham dự tích cực (Actuosa participatio)

Sự tham dự đích thực [52]

Sự tham dự và chức tư tế thừa tác [53]

Cử hành Thánh Thể và hội nhập văn hoá [54]

Những điều kiện cá nhân để có được sự tham dự tích cực [55]

Sự tham dự của các kitô hữu không phải công giáo [56]

Tham dự qua các phương tiện truyền thông [57]

Sự tham dự tích cực của các bệnh nhân [58]

Chăm sóc các tù nhân [59]

Những người di cư và sự tham dự Thánh Thể [60]

Những cuộc đồng tế lớn [61]

Tiếng Latinh [62]

Các cử hành Thánh Thể theo nhóm nhỏ [63]

 

Sự tham dự nội tâm vào việc cử hành

Giáo lý nhiệm huấn [64]

Lòng tôn kính đối với Bí tích Thánh Thể [65]

 

Sự thờ phượng và lòng sùng kính Thánh Thể

Mối liên hệ nội tại giữa cử hành và thờ phượng [66]

Thói quen chầu Thánh Thể [67]

Những hình thức sùng kính Thánh Thể [68]

Vị trí của nhà tạm [69]

 

 

PHẦN THỨ BA :

 

THÁNH THỂ, MẦU NHIỆM ĐỂ SỐNG

 

Khuôn mẫu Thánh Thể của đời sống kitô hữu

 

Việc phượng tự thiêng liêng – logiké latreía (Rm 12,1) [70]

Hiệu quả toàn vẹn của việc tôn thờ Thánh Thể [71]

Iuxta dominicam viventes” – Sống đúng theo ngày Chúa Nhật [72]

Sống giới răn ngày Chúa Nhật [73]

Ý nghĩa của nghỉ ngơi và lao động [74]

Tụ họp ngày Chúa Nhật khi thiếu vắng linh mục [75]

Một khuôn mẫu Thánh Thể của đời sống kitô hữu :

thuộc về Hội Thánh [76]

Linh đạo và văn hoá Thánh Thể [77]

Thánh Thể và việc loan báo Tin Mừng cho các nền văn hoá [78]

Thánh Thể và tín hữu giáo dân [79]

Thánh Thể và linh đạo linh mục [80]

Thánh Thể và đời sống thánh hiến [81]

Thánh Thể và sự biến đổi luân lý [82]

Sự nhất quán Thánh Thể [83]

 

Thánh Thể, mầu nhiệm để loan báo

Thánh Thể và sứ vụ [84]

Thánh Thể và việc làm chứng [85]

Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhất [86]

Tư do tôn giáo [87]

 

Thánh Thể, mầu nhiệm để trao ban cho thế giới

Thánh Thể, bánh được bẻ ra cho sự sống thế giới [88]

Những hệ quả xã hội của Mầu nhiệm Thánh Thể [89]

Lương thực chân lý và nỗi khốn cùng của con người [90]

Học thuyết xã hội của Hội Thánh [91]

Thánh hoá thế giới và bảo vệ vũ trụ [92]

Ích lợi của một Bản Toát Yếu về Thánh Thể [93]

 

 

KẾT LUẬN [94-97]


 

DẪN NHẬP

1. Bí tích tình yêu,[1][1] Bí tích Thánh Thể là quà tặng của Đức Giêsu Kitô tự hiến chính mình ; với Bí tích này, Người mạc khải cho chúng ta tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Trong Bí tích kỳ diệu này đã bày tỏ được tình yêu “vĩ đại”, tình yêu thúc bách “trao hiến chính mạng sống mình cho bạn hữu” (x. Ga 15,13). Vâng, Chúa Giêsu đã yêu những kẻ thuộc về mình “cho đến cùng” (Ga 13,1). Với cách diễn đạt này, tác giả Phúc Âm hướng chúng ta vào cử chỉ tự hạ tuyệt đối Chúa Giêsu đã thực hiện. Trước khi chết trên thập giá, Người đã lấy khăn thắt lưng và rửa chân cho các môn đệ. Cũng vậy, trong Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu vẫn yêu thương chúng ta “cho đến cùng”, đến độ hiến ban mình và máu Người. Tâm hồn các tông đồ phải sửng sốt biết bao trước cử chỉ và lời nói của Chúa trong bữa Tiệc Ly ! Mầu nhiệm Thánh Thể phải khơi lên trong tâm hồn chúng ta một sự kinh ngạc biết bao !

 

Lương thực chân lý

2. Nơi bí tích Bàn Thờ, Chúa đến với con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa (x. St 1,27) và đã trở thành người bạn đường của họ. Trong Bí tích này, Chúa tự trở thành lương thực cho con người đang khao khát chân lý và tự do. Vì chỉ có chân lý mới thực sự làm cho chúng ta được tự do (x. Ga 8,36), nên Đức Kitô đã tự biến thành lương thực chân lý cho chúng ta. Với một nhận thức sâu xa về thực tại con người, thánh Augustinô cho thấy rõ ràng con người sẽ tự ý hành động, và không do ép buộc, khi họ thấy mình có liên hệ với những gì lôi kéo và khơi dậy trong họ niềm khao khát. Khi người ta đặt câu hỏi cho vị thánh Giám mục này, cuối cùng thì điều gì lôi kéo con người cách sâu xa nhất, ngài trả lời : “Có điều gì linh hồn ao ước mãnh liệt cho bằng chân lý ?”[2][2]. Thật vậy, mỗi người đều mang trong mình một sự khao khát triền miên về chân lý cuối cùng và tối thượng. Vì thế Chúa Giêsu, Đấng là “đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6), hướng về con tim hổn hển của con người lữ hành đang khát, hướng về con tim khao khát đi tìm nước nguồn sự sống ; hướng về con tim khắc khoải với chân lý. Đức Giêsu Kitô là Chân Lý đã hóa thành người, đang lôi kéo thế giới về với mình. “Chúa Giêsu là sao Bắc Đẩu chỉ đường cho con người đến với tự do. Không có Người, nhân loại sẽ mất định hướng, vì nếu không biết chân lý, tự do sẽ thay đổi bản chất, tự cô lập và trở thành độc đoán. Với Đức Giêsu Kitô, tự do mới tìm lại được chính mình”[3][3]. Trong Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy một cách đặc biệt chân lý tình yêu, đó chính là bản chất của Thiên Chúa. Chân lý này được đặt nền tảng trên Phúc Âm, liên hệ đến từng cá nhân và toàn thể nhân loại. Hội Thánh tìm được trong Bí tích Thánh Thể trọng tâm sự sống cần thiết cho mình, luôn cố gắng loan báo cho mọi người Thiên Chúa là Tình yêu, dù người ta có nghe hay không (x. 2Tm 4,2)[4][4]. Chính vì Đức Kitô đã trở thành lương thực chân lý cho chúng ta, nên Hội Thánh hướng đến mọi người và mời gọi họ tự do đón nhận ân huệ của Thiên Chúa.

 

Sự phát triển của nghi thức thánh lễ

3. Nếu chúng ta nhìn lại lịch sử hai ngàn năm của Hội Thánh, được Thánh Thần khôn ngoan dẫn dắt, với lòng biết ơn tràn đầy, chúng ta sẽ kinh ngạc trước sự phát triển của những hình thức nghi lễ qua dòng thời gian, nhờ đó, chúng ta tưởng niệm các biến cố ơn cứu độ của chúng ta. Từ những hình thức rất đa dạng của những thế kỷ đầu tiên và vẫn còn chiếu toả trong các nghi lễ của những Giáo hội Đông Phương Cổ, cho đến việc phổ biến nghi lễ Rôma ; từ những hướng dẫn rõ ràng của Công đồng Triđentinô và quyển sách lễ của Đức thánh Giáo Hoàng Piô V cho đến cuộc canh tân phụng vụ do Công đồng Vaticanô II khích lệ : mỗi thời đại của lịch sử Hội Thánh, việc cử hành Thánh Lễ, như là nguồn mạch và chóp đỉnh của đời sống và sứ vụ của Hội Thánh, luôn chiếu tỏa trong nghi thức phụng vụ với sự phong phú đa dạng của nó. Khi nhìn lại lịch sử này, Thượng Hội Đồng Giám Mục thường kỳ lần thứ 11, từ ngày 2 đến ngày 23 tháng 10 năm 2005 diễn ra tại Vatican, đã dâng lời cảm tạ sâu xa lên Thiên Chúa và công nhận rằng chính Chúa Thánh Thần đã hoạt động tích cực để hướng dẫn lịch sử này. Các nghị phụ của Thượng Hội Đồng đặc biệt ghi nhận và nhắc lại ảnh hưởng đầy ân sủng mà cuộc canh tân phụng vụ bắt nguồn từ Công đồng Vaticanô II đã tác động trên đời sống Hội Thánh.[5][5] Thượng Hội Đồng Giám Mục đã có thể đánh giá việc đón nhận cuộc canh tân này trong những năm tiếp sau Công đồng. Có rất nhiều cách đánh giá. Những khó khăn và cả những lạm dụng được nêu lên không làm mờ đi giá trị và sự hữu hiệu của cuộc canh tân còn chưa bộc lộ hết kho tàng ẩn chứa nơi mình. Cụ thể, là phải nhắm tới việc thấu hiểu những thay đổi theo ý hướng của Công đồng trong sự duy nhất toàn thể của sự phát triển qua dòng lịch sử của nghi lễ, mà không đưa tới một sự gián đoạn nào do chính con người.[6][6]

 

Thượng Hội Đồng Giám Mục và Năm Thánh Thể

4. Cần phải nhấn mạnh sự liên hệ giữa Thượng Hội Đồng Giám Mục mới đây về Bí tích Thánh Thể và những gì diễn ra những năm vừa qua trong đời sống Hội Thánh. Trước nhất, chúng ta nhớ tới Năm Thánh vĩ đại 2000 mà vị Tiền Nhiệm đáng mến của tôi là Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, đã hướng dẫn Hội Thánh bước vào thiên niên kỷ thứ ba của Kitô giáo. Chiều kích Thánh Thể đã tô đậm nét Năm Thánh này. Chúng ta cũng không quên rằng Thượng Hội Đồng Giám mục đã có Năm Thánh Thể đi trước và chuẩn bị, do Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II triệu tập, trong cái nhìn thật xa cho toàn thể Hội Thánh. Thời gian này được bắt đầu bằng Đại Hội quốc tế về Bí tích Thánh Thể tại Guadalajara vào tháng 10 năm 2004, và kết thúc vào cuối Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ 11 ngày 23 tháng 10 năm 2005 với việc phong thánh cho 5 vị nổi bật về lòng đạo đức tôn thờ Bí tích Thánh Thể. Đó là : thánh Giám mục Józek Bilczewski, các linh mục Gae-tano Catanoso, Zygmunt Gorazdowski và Alberto Hurtado Cruchaga, và tu sĩ capuchin Felice da Nicosia. Căn cứ trên các giáo huấn được Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II trình bày trong Tông thư Mane nobiscum Domine (Lạy Chúa, xin ở lại với chúng con)[7][7] và cám ơn các đề nghị đầy giá trị của Bộ Phượng Tự và kỷ luật các bí tích,[8][8] nhiều địa phận và các nhóm trong Hội Thánh đã có nhiều khởi xướng để khơi dậy và gia tăng niềm tin của tín hữu vào Bí tích Thánh Thể, để nâng cao vẻ đẹp của việc cử hành và thúc đẩy việc tôn thờ Bí tích Thánh Thể, nhờ đó động viên sự liên đới tích cực với những người túng thiếu. Sau hết cũng phải nhắc đến Thông điệp cuối cùng Giáo Hội sống nhờ Thánh Thể (Ecclesia de Eucharistia)[9][9] của Đấng tiền nhiệm của tôi, với Thông điệp này, Ngài để lại cho chúng ta những điểm tựa chắc chắn thuộc huấn quyền về giáo lý Thánh Thể và một chứng từ cuối cùng cho thấy vị trí trung tâm của bí tích thiên linh này trong đời sống của Ngài.

 

Mục đích của Tông huấn này

5. Tông huấn hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục có mục đích lấy lại sự phong phú của những suy tư và đề nghị được đề ra trong Đại hội thường kỳ của Thượng Hội Đồng các Giám mục – từ Đề Cương (Lineamenta) cho đến các Đề Nghị (Pro-positiones), giữa quá trình này còn có Tài Liệu Làm Việc (Instrumentum laboris), các Tham luận trước và sau cuộc Thảo Luận (Relationes ante et post disceptationem), các phát biểu của các Nghị Phụ, các dự thính viên (auditores) và các đại diện của các giáo hội anh em – với ý định triển khai vài định hướng căn bản nhằm gợi lên trong Hội Thánh những động lực và sự sốt sắng mới mẻ với Bí tích Thánh Thể. Trong ý thức về gia sản tín lý và kỷ luật được thu tập qua bao thế kỷ về bí tích này,[10][10] và đón nhận ý kiến của các nghị phụ,[11][11] với Tông huấn này, tôi ao ước các kitô hữu đào sâu liên hệ giữa mầu nhiệm Thánh Thể, hành động phụng vụviệc phượng tự mới trong tinh thần xuất phát từ Bí tích Thánh Thể, như là bí tích tình yêu. Trong ý hướng này, tôi muốn liên kết Tông huấn này với Thông điệp đầu tiên của tôi Thiên Chúa Là Tình Yêu (Deus caritas est), trong Thông điệp, nhiều lần tôi đã nói đến Bí tích Thánh Thể để làm rõ nét liên hệ giữa bí tích này và tình yêu kitô giáo, yêu Chúa và yêu người : “Thiên Chúa hoá thành người lôi kéo tất cả chúng ta về với Người. Từ đó chúng ta hiểu được tại sao agapê cũng trở thành một tên gọi của Bí tích Thánh Thể : trong Thánh Thể, Tình Yêu (agapê) của Thiên Chúa mang tính xác phàm đến với chúng ta, để trong chúng ta và qua chúng ta tiếp tục thực hiện công trình của Ngài”[12][12].

 




 

PHẦN THỨ NHẤT

 

BÍ TÍCH THÁNH THỂ,

 

MẦU NHIỆM MÀ CHÚNG TA TIN

 

“Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm,

là tin vào Đấng Ngài đã sai đến” (Ga 6,29).

 

Niềm tin vào Bí tích Thánh Thể của Hội Thánh

6. “Cao cả thay mầu nhiệm đức tin !”. Với lời kêu gọi ngay sau những lời truyền phép, vị chủ tế công bố mầu nhiệm được cử hành và biểu lộ sự kinh ngạc của mình trước sự biến thể từ bánh rượu thành Mình và Máu Đức Kitô – một thực tại vượt quá trí hiểu của con người. Thực vậy, Bí tích Thánh Thể là “Mầu nhiệm đức tin” trong nghĩa tuyệt đối : “là tóm tắt và tổng hợp của đức tin chúng ta”[13][1]. Đức tin của Hội Thánh trong bản chất là niềm tin Thánh Thể và được nuôi dưỡng cách đặc biệt nơi bàn tiệc Thánh Thể. Đức tin và các bí tích là hai phương diện bổ túc cho nhau của đời sống Hội Thánh. Qua việc công bố Lời Chúa, đức tin được nuôi dưỡng và lớn lên nhờ việc gặp gỡ đầy ân sủng với Chúa Phục Sinh, việc gặp gỡ này được thực hiện trong các bí tích. “Đức tin biểu lộ qua nghi thức và nghi thức củng cố đức tin cách vững chắc”[14][2]. Vì thế, bí tích Bàn Thờ luôn là trung tâm của đời sống Hội Thánh ; “nhờ Bí tích Thánh Thể, Hội Thánh luôn được tái sinh cách mới mẻ”[15][3]. Niềm tin vào Bí tích Thánh Thể càng sống động trong Dân Chúa, thì sự tham dự của họ vào đời sống Hội Thánh càng sâu xa nhờ gắn bó cách kiên vững vào sứ vụ do chính Đức Kitô trao phó cho các môn đệ của Người. Điều này đã được lịch sử Hội Thánh minh chứng. Mọi cuộc canh tân, một cách nào đó, đều liên kết với sự tái khám phá đức tin vào sự hiện diện của Chúa giữa Dân Người trong Bí tích Thánh Thể.

 

Mầu nhiệm Ba Ngôi cực thánh và bí tích Thánh Thể

 

Bánh từ trời ban xuống

7. Nội dung chính yếu của niềm tin vào Bí tích Thánh Thể là mầu nhiệm của Thiên Chúa, của tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa. Trong cuộc trao đổi của Chúa Giêsu với ông Nicôđêmô, chúng ta gặp được một cách giải thích thật sáng sủa : “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Ngài đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Ngài mà được cứu độ” (Ga 3,16-17). Các lời này cho thấy cội rễ sâu xa của ân huệ Thiên Chúa. Trong Bí tích Thánh Thể, không phải Chúa Giêsu trao ban “một điều gì”, nhưng Người tự hiến chính mình ; Người đã hiến dâng thân xác mình và đã đổ máu mình ra. Với cách thức này, Người ban tặng trọn vẹn cuộc sống của mình và mạc khải nguồn mạch nguyên thủy của tình yêu này. Người là Chúa Con hằng hữu, được Cha trao ban cho chúng ta. Trong Phúc Âm, chúng ta được nghe lời Chúa Giêsu một lần nữa ; sau phép lạ hóa bánh và cá để nuôi sống dân chúng, Người nói với những kẻ đối thoại đã theo Người cho đến Hội Đường Capharnaum : “Cha tôi ban cho các ông bánh đích thực từ trời. Vì bánh Thiên Chúa ban, là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian” (Ga 6,32-33) và xa hơn nữa, Người đã đồng hóa bánh này với Thịt và Máu của Người : “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6,51). Với cách thức này, Chúa Giêsu tự mạc khải mình là Bánh sự sống được Thiên Chúa vĩnh hằng trao ban cho con người.

 

Ân huệ nhưng không của Thiên Chúa Ba Ngôi

8. Trong Bí tích Thánh Thể, kế hoạch tình yêu tự biểu lộ rõ ràng, kế hoạch này xác định hướng đi cho toàn thể lịch sử cứu độ (x. Ep 1,10 ; 3,8-11). Trong kế hoạch này Thiên Chúa Ba Ngôi (Deus Trinitas), tự tại là tình yêu (x. 1Ga 4,7-8), dấn thân cách trọn vẹn trong thân phận nhân loại của chúng ta. Trong bánh rượu, dưới hình dạng của cả hai, Đức Kitô tự hiến chính mình cho chúng ta trong bữa tiệc Vượt qua (x. Lc 22,14-20 ; 1Cr 11,23-26) ; đó là sự sống viên mãn của Thiên Chúa đến với chúng ta và được chia sẻ cho chúng ta dưới hình thức bí tích. Thiên Chúa là sự hiệp thông toàn hảo của tình yêu giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Ngay trong mầu nhiệm sáng tạo, con người lãnh nhận ơn gọi được chia sẻ một cách nào đó vào hơi thở sinh động của Thiên Chúa (x. St 2,7). Nhưng chính trong Đức Kitô đã chết và đã sống lại, cũng như trong việc ban tràn đầy Chúa Thánh Thần (x. Ga 3,34) mà chúng ta được thông phần vào nơi sâu thẳm nhất của Thiên Chúa.[16][4] Đức Giêsu Kitô, Đấng “nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa” (Dt 9,14), trao ban cho chúng ta chính sự sống của Thiên Chúa trong hồng ân Bí tích Thánh Thể. Đây là một ân huệ tuyệt đối nhưng không, đến từ lời hứa của Thiên Chúa và được ban dư đầy. Hội Thánh đón nhận, cử hành và tôn thờ hồng ân này với một lòng vâng phục trung thành. “Mầu nhiệm đức tin” là mầu nhiệm của tình yêu Chúa Ba Ngôi mà chúng ta được mời gọi thông phần nhờ ân sủng. Vì thế chúng ta phải cùng với thánh Augustinô kêu lên : “Nếu anh thấy được tình yêu, anh sẽ thấy Thiên Chúa Ba Ngôi”[17][5].

 

Bí tích Thánh Thể : Chúa Giêsu là Chiên hiến tế đích thực

 

Giao ước mới và vĩnh cửu trong máu con chiên

9. Sứ vụ, do đó mà Chúa Giêsu đến với chúng ta, được hoàn tất trong mầu nhiệm Vượt qua. Trước khi “trao Thần Khí”, Người đã nói từ trên thập giá, từ đó Người sẽ lôi kéo mọi người đến với mình (x. Ga 12,32) : “Thế là đã hoàn tất !” (Ga 19,30). Trong mầu nhiệm vâng phục của Người cho đến chết, và chết trên thập giá (x. Pl 2,8), giao ước mới và vĩnh cửu được thực hiện. Trong thân xác bị đóng đinh của Người, sự tự do của Thiên Chúa và sự tự do của con người đã gặp gỡ nhau một cách dứt khoát trong khế ước vĩnh viễn, có giá trị muôn đời. Con Thiên Chúa đã đền tội cho con người một lần thay cho tất cả (x. Dt 7,27 ; 1Ga 2,2 ; 4,10). Như tôi đã có lần nhấn mạnh : “Trong cái chết thập giá của Người, Thiên Chúa đã chống lại chính mình, khi ban tặng chính mình để nâng con người lên và cứu độ họ – đó là tình yêu trong hình thức triệt để nhất”[18][6]. Trong mầu nhiệm Vượt qua, việc giải thoát chúng ta khỏi sự dữ và sự chết đã được thực hiện cách trọn vẹn. Trong thời điểm thiết lập Bí tích Thánh Thể, chính Chúa Giêsu nói về “giao ước mới và vĩnh cửu” được đóng ấn bằng chính máu của Người (x. Mt 26,28 ; Mc 14,24 ; Lc 22,20). Mục đích cuối cùng đã nổi bật rõ ràng ngay từ lúc khởi đầu đời sống công khai của Người. Khi thấy Chúa Giêsu đến với mình ở bờ sông Giođan, Gioan Tẩy Giả đã kêu lên : “Đây là chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1,29). Câu nói này được lập lại đầy ý nghĩa trong mỗi Thánh Lễ, khi vị chủ tế mời gọi trước khi hiệp lễ : “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian ! Phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa !”. Chúa Giêsu là chiên vượt qua đích thực, tự nguyện trở thành lễ vật dâng lên Thiên Chúa cho chúng ta và qua đó Người thực hiện giao ước mới và vĩnh cửu. Bí tích Thánh Thể chứa đựng điều mới mẻ triệt để này, lại được trao ban cho chúng ta trong mỗi Thánh Lễ.[19][7]

 

Việc thiết lập Bí tích Thánh Thể

10. Điều đó mời gọi chúng ta suy niệm về việc thiết lập Bí tích Thánh Thể trong bữa Tiệc cuối cùng. Việc thiết lập này diễn ra trong bối cảnh một bữa tiệc nghi lễ, tưởng niệm biến cố đặt nền tảng cho dân Israel là cuộc giải thoát khỏi ách nộ lệ bên Ai Cập. Bữa tiệc nghi lễ được liên kết với việc sát tế các con chiên (x. Xh 12,1-28.43-51) là kỷ niệm về quá khứ, nhưng đồng thời là kỷ niệm mang tính tiên tri, là sự loan báo về một cuộc giải phóng trong tương lai. Thật vậy, dân chúng biết rõ rằng cuộc giải phóng đó chưa phải là cuộc giải phóng cuối cùng, vì lịch sử của họ còn mang đầy dấu chứng nô lệ và tội lỗi. Kỷ niệm về cuộc giải phóng trong quá khứ dẫn đến việc khẩn cầu và chờ đợi một ơn cứu độ sâu xa hơn, thật cơ bản, phổ quát và tối hậu. Chính trong bối cảnh này mà Chúa Giêsu đưa vào tính chất mới mẻ của ân huệ Người. Trong lời kinh cảm tạ Berakah, Người tạ ơn Thiên Chúa không những vì các biến cố vĩ đại của quá khứ, nhưng còn vì việc Người được “tôn vinh”. Khi thiết lập Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu thể hiện trước hy tế thập giá và chiến thắng phục sinh. Đồng thời Người minh chứng mình là con chiên đích thực chịu sát tế, được nhìn thấy trước trong kế hoạch của Chúa Cha ngay từ ban đầu khi sáng tạo vũ trụ, như lá thư thứ nhất của thánh Phêrô đã viết (x. 1,18-20). Khi đưa hy lễ của Người vào trong bối cảnh này, Chúa Giêsu loan báo ý nghĩa cứu độ của cái chết và sự phục sinh của Người, mầu nhiệm trở thành sự canh tân lịch sử và toàn thể vũ trụ. Việc thiết lập Bí tích Thánh Thể cho thấy cái chết của Người, dù khủng khiếp và phi lý, đã trở thành trong Chúa Giêsu một hành vi yêu thương cao vời, và đối với nhân loại là cuộc giải phóng hoàn toàn khỏi sự dữ.

 

Figura transit in veritatem (hình ảnh biến thành sự thật)

11. Với cách thức này, Chúa Giêsu đã đưa một điều hoàn toàn mới mẻ vào trong thâm sâu tiệc hy tế của Do Thái. Đối với những người kitô hữu, chúng ta không cần lặp lại tiệc này. Các giáo phụ nói rõ ràng figura transit in veritatem, hình ảnh đã biến đổi thành sự thật : những gì đã được loan báo về các thực tại sẽ đến, bây giờ nhường chỗ cho sự thật. Nghi thức cổ xưa đã hoàn tất và đã được hồng ân tình yêu của Con Thiên Chúa nhập thể kết thúc rồi. Lương thực chân lý, là chính Đức Kitô chịu sát tế vì chúng ta, “đã chấm dứt các hình ảnh” (dat figuris terminum)[20][8]. Mệnh lệnh : “Hãy làm việc này để tưởng nhớ đến Thầy !” (Lc 22,19 ; 1Cr 11,25) đòi buộc chúng ta đáp lại hiến lễ của Người và thực hiện lại cách bí tích. Với những lời này, Chúa muốn cho Hội Thánh, sinh ra từ hy tế của Người, đón nhận hồng ân đó, và dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần triển khai mẫu thức phụng vụ của bí tích này. Việc cử hành tưởng niệm hồng ân tuyệt hảo của Người không cốt ở việc lập lại cách đơn thuần bữa tiệc cuối cùng, nhưng là ở Bí tích Thánh Thể, nghĩa là nơi điều mới mẻ triệt để của phượng tự Kitô giáo. Chúa Giêsu để lại cho chúng ta sứ vụ bước vào “Giờ” của Người : “Bí tích Thánh Thể đưa chúng ta vào hành vi dâng hiến của Chúa Giêsu. Chúng ta không chỉ lãnh nhận Ngôi Lời nhập thể cách thụ động, nhưng chúng ta còn được tích cực lôi cuốn vào sự tự hiến của Người”[21][9]. Người “cuốn hút chúng ta vào trong Người”[22][10]. Sự biến đổi bánh và rượu thành Mình và Máu Thánh Chúa đưa vào các thụ tạo một nguyên nhân biến đổi tận gốc, giống như một thứ “bùng nổ hạt nhân”, theo kiểu nói quen thuộc của thời đại chúng ta, sự biến đổi thấm nhập vào trong tâm của thực tại nhằm khởi động một tiến trình biến đổi thực tại, hướng tới mục đích cuối cùng là biến đổi toàn thể vũ trụ cho đến khi Thiên Chúa là tất cả trong mọi sự (x. 1Cr 15,28).

 

Chúa Thánh Thần và Bí tích Thánh Thể

 

Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần

12. Với lời ngài và bánh rượu, Chúa đã ban tặng chúng ta các yếu tố chính yếu của phượng tự mới. Hội Thánh, Hiền thê của Người, được mời gọi mỗi ngày cử hành tiệc Thánh Thể để tưởng niệm Người. Bằng cách thức đó, Hội Thánh đã ghi vào lịch sử nhân loại hy tế cứu độ của Phu Quân mình và làm cho hy tế đó hiện diện cách bí tích trong các nền văn hóa. Mầu nhiệm vĩ đại này được cử hành trong các hình thức phụng vụ mà Hội Thánh, nhờ Thánh Thần hướng dẫn, đã phát triển qua không gian và thời gian.[23][11] Cần phải gợi lên trong chúng ta ý thức về vai trò quyết định của Chúa Thánh Thần trong việc phát triển hình thức phụng vụ và trong việc đào sâu các mầu nhiệm thần linh. Đấng An Ủi, ân huệ đầu tiên được Thiên Chúa ban cho các tín hữu,[24][12] là Đấng hoạt động ngay trong cuộc sáng tạo (x. St 1,2), hiện diện trong suốt đời sống của Ngôi Lời nhập thể : Đức Giêsu Kitô đã được Đức Trinh Nữ Maria cưu mang nhờ tác động của Thánh Thần (x. Mt 1,18 ; Lc 1,35) ; vào lúc khởi đầu sứ vụ công khai, Chúa Giêsu đã thấy Thánh Thần nơi sông Giođan dưới hình bồ câu ngự xuống trên mình (x. Mt 3,16tt) ; chính trong Thánh Thần mà Đức Giêsu đã hoạt động, rao giảng và vui sướng ca ngợi (x. Lc 10,21) ; và trong Thánh Thần, Người đã dâng hiến chính mình làm lễ vật (x. Dt 9,14). Trong lời giã biệt theo Phúc Âm thánh Gioan, Đức Giêsu cho thấy liên hệ rõ ràng giữa việc hiến dâng cuộc sống mình trong mầu nhiệm Vượt qua và hồng ân Thánh Thần được ban cho các kẻ thuộc về Người (x. Ga 16,7). Như Đấng Phục sinh còn mang đầy dấu chứng khổ nạn trên thân xác, Người có thể ban Thánh Thần qua hơi thở của mình (x. Ga 20,22) và cho các kẻ thuộc về Người tham gia vào sứ vụ của Người (x. Ga 20,21). Thánh Thần sẽ dạy và giúp các môn đệ nhớ lại tất cả những gì Đức Kitô đã nói với họ (x. Ga 14,26) ; vì là Thánh Thần Chân lý (x. Ga 15,26), Ngài có trách nhiệm hướng dẫn các môn đệ vào chân lý toàn vẹn (x. Ga 16,13). Theo trình thuật nơi sách Công Vụ tông đồ, Thánh Thần đã ngự xuống trên các tông đồ đang cùng tụ họp cầu nguyện với Đức Maria vào ngày lễ Hiện Xuống (x. Cv 2,1-4), Ngài đổ tràn sức mạnh để họ thực hiện sứ vụ rao giảng Tin Mừng cho mọi dân tộc. Như thế dưới tác động của Thánh Thần, Đức Kitô vẫn hiện diện và hoạt động trong lòng Hội Thánh, từ chính Bí tích Thánh Thể là trung tâm đời sống.

 

Chúa Thánh Thần và việc cử hành thánh lễ

13. Dựa trên nền tảng này, chúng ta có thể thấy vai trò quyết định của Chúa Thánh Thần trong việc cử hành thánh lễ và đặc biệt trong việc biến thể. Các giáo phụ rất ý thức về vấn đề này. Thánh Xyrilô thành Giêrusalem trong quyển Giáo lý của mình nhắc nhớ rằng chúng ta “khẩn cầu Thiên Chúa nhân từ sai Thánh Thần của Người đến trên lễ vật đây, để Người biến bánh trở thành Thân Thể Đức Kitô và rượu trở thành Máu của Đức Kitô. Những gì Thánh Thần đụng chạm tới đều được thánh hóa và hoàn toàn biến đổi”[25][13]. Thánh Gioan Kim Khẩu nhấn mạnh rằng vị chủ tế khẩn cầu Chúa Thánh Thần, khi ngài cử hành hy tế [26][14] ; thánh nhân nói tiếp : như ngôn sứ Êlia, người tôi tớ Chúa, vị chủ tế kêu cầu Chúa Thánh Thần đến để “khi ân sủng xuống trên lễ vật, linh hồn mọi người nhờ đó được bừng cháy lên sốt sắng”[27][15]. Quan trọng nhất đối với đời sống thiêng liêng của các tín hữu là được nhận thức rõ ràng về sự phong phú của các kinh nguyện Thánh Thể (Anaphora) : thêm vào các lời Đức Kitô phán trong Tiệc Ly, kinh nguyện Thánh Thể còn có kinh Epiklesis, lời khẩn cầu dâng lên Chúa Cha xin ban hồng ân Thánh Thần xuống, để bánh rượu trở thành Mình Máu Đức Giêsu Kitô và “cả cộng đoàn luôn trở thành Thần Thể Đức Kitô”[28][16]. Chúa Thánh Thần, Đấng mà vị chủ tế khẩn cầu ngự xuống trên bánh rượu đang được đặt trên bàn thờ, cũng là Đấng kết hợp các tín hữu “trở thành một thân thể” và biến họ thành lễ vật thiêng liêng làm đẹp lòng Thiên Chúa Cha.[29][17]

 

Bí tích Thánh Thể và Hội Thánh

 

Bí tích Thánh Thể, nguyên lý nhân quả của Hội Thánh

14. Qua Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu đưa tín hữu vào trong “Giờ” của Người ; theo cách thức đó, Người cho chúng ta thấy liên hệ mà Người muốn có giữa Người với chúng ta, giữa cá nhân Người với Hội Thánh. Thật vậy, chính Đức Kitô, trong hy tế thập giá, đã sinh ra Hội Thánh như Hiền thê và thân thể của Người. Các giáo phụ suy gẫm cách say mê về liên hệ giữa nguồn gốc của Evà xuất phát từ cạnh sườn ông Ađam đang say ngủ (x. St 2,21-23) với Evà mới là Hội Thánh xuất phát từ cạnh sườn bị khai mở của Đức Kitô đang chìm trong giấc ngủ của cái chết : như thánh Gioan trình thuật, từ cạnh sườn bị đâm thâu tuôn chảy máu và nước (x. Ga 19,34) biểu trưng cho các bí tích.[30][18] Một cái nhìn chiêm ngắm “Đấng mà cạnh sườn bị đâm thâu” (Ga 19,37) sẽ giúp chúng ta suy niệm về liên hệ nhân quả giữa hy tế của Đức Kitô, Bí tích Thánh Thể và Hội Thánh. Thật vậy : “Hội Thánh sống nhờ Bí tích Thánh Thể”[31][19]. Vì trong bí tích này hy tế cứu độ của Đức Kitô thực sự hiện diện, buộc mọi người phải chân nhận “có một ảnh hưởng nhân quả của Bí tích Thánh Thể vào chính nguồn gốc của Hội Thánh”[32][20]. Bí tích Thánh Thể chính là Đức Kitô, Đấng tự hiến ban chính mình cho chúng ta và không ngừng xây dựng chúng ta trở thành thân thể của Người. Vì thế, trong liên hệ hỗ tương giữa Bí tích Thánh Thể là bí tích xây dựng Hội Thánh, với chính Hội Thánh là nơi “làm nên” Bí tích Thánh Thể,[33][21] nguyên nhân thứ nhất được diễn tả trong công thức đầu tiên : Hội Thánh có thể cử hành và thờ phượng mầu nhiệm Đức Kitô hiện diện trong Bí tích Thánh Thể chính vì Đức Kitô đã tự hiến trước cho Hội Thánh trong hy tế thập giá. Việc Hội Thánh có khả năng “làm nên” Bí tích Thánh Thể hoàn toàn bắt nguồn từ sự tự hiến của Đức Kitô cho Hội Thánh. Nơi đây, chúng ta khám phá một phương diện hết sức thuyết phục trong công thức của thánh Gioan : “Người đã yêu chúng ta trước” (x. 1Ga 4,19). Cứ mỗi lúc cử hành, chúng ta tuyên xưng hồng ân Đức Kitô là trên hết. Đặc tính nguyên nhân của Bí tích Thánh Thể làm phát sinh Hội Thánh tỏ lộ cách dứt khoát ưu thế của sự kiện này là Đức Kitô đã yêu chúng ta trước, không những về mặt thời gian, nhưng cả về mặt hữu thể ! Cho đến mãi muôn đời, Người vẫn là Đấng đã yêu thương chúng ta trước !


 

Bí tích Thánh Thể và sự hiệp thông trong Hội Thánh

15. Bí tích Thánh Thể là yếu tố nền tảng cho sự hiện hữu và hoạt động của Hội Thánh. Vì thế, Kitô giáo vào thời kỳ đầu thường dùng chung một cách diễn tả là Corpus Christi (Mình Chúa Kitô) để nói về thân xác do Đức Trinh Nữ Maria sinh ra, về Mình Chúa trong Bí tích Thánh Thể và về thân thể Hội Thánh của Đức Kitô.[34][22] Dữ kiện được lưu truyền giúp chúng ta có được một ý thức rõ ràng về sự bất phân ly giữa Đức Kitô và Hội Thánh. Chúa Giêsu, khi tự hiến mình cho chúng ta làm của lễ hy sinh, trong hồng ân của Người đã loan báo một cách hữu hiệu mầu nhiệm Hội Thánh. Điểm đặc biệt, Kinh Nguyện Thánh Thể II liên kết lời cầu xin cho sự hiệp nhất của Hội Thánh với lời kinh khẩn cầu Chúa Thánh Thần sau khi truyền phép, bằng công thức như sau : “Chúng con nài xin Chúa cho chúng con khi thông phần Mình và Máu Đức Kitô, được quy tụ nên một nhờ Chúa Thánh Thần”. Công thức này cho thấy rõ ràng hiệu quả (res) của Bí tích Thánh Thể là sự hiệp nhất của các tín hữu trong sự hiệp thông Hội Thánh. Như thế Bí tích Thánh Thể tỏ hiện là nền tảng của Hội Thánh là mầu nhiệm Hiệp thông.[35][23]

Tôi tớ Chúa là Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II trong thông điệp “Hội Thánh sống nhờ Thánh Thể” (Ecclesia de Eucha-ristia) giúp chúng ta chú ý đến liên hệ giữa Bí tích Thánh Thể và hiệp thông. Ngài nói việc cử hành tưởng niệm Đức Kitô là “cách thể hiện cao cả nhất dưới dạng bí tích sự hiệp thông trong Hội Thánh”[36][24]. Sự duy nhất của hiệp thông Hội Thánh biểu lộ cách cụ thể trong các cộng đoàn kitô hữu và được lập lại trong cử hành Thánh Thể, việc làm này vừa kết hợp họ lại và làm cho họ khác biệt nhau trong các Giáo Hội địa phương, “trong và nhờ những Giáo Hội địa phương này Hội Thánh công giáo duy nhất được thể hiện” (in quibus et ex quibus una et unica Ecclesia catholica exsistit)[37][25]. Chính thực tại của một Bí tích Thánh Thể duy nhất được cử hành trong từng địa phận vây quanh vị Giám mục của riêng mình giúp chúng ta hiểu rõ làm thế nào những Giáo Hội từng vùng tồn tại trong (in) và từ Hội Thánh (ex Ecclesia). “Sự đơn nhất và bất khả phân ly của Thân Thể Chúa trong Bí tích Thánh Thể đòi buộc sự đơn nhất của thân thể nhiệm mầu là Hội Thánh duy nhất và không phân chia. Chính từ trung tâm Bí tích Thánh Thể mới có được sự cởi mở cần thiết của từng cộng đoàn đang cử hành, của từng Giáo hội địa phương : được lôi kéo bởi những cánh tay rộng mở của Chúa, mà người ta được tháp nhập vào thân thể duy nhất và không phân chia”[38][26]. Từ nền tảng này, trong việc cử hành Bí tích Thánh Thể, mỗi tín hữu thấy mình hiện diện trong Hội Thánh của Người, có nghĩa là Hội Thánh của Đức Kitô. Trong quan niệm đúng đắn như thế về Bí tích Thánh Thể, sự hiệp thông Hội Thánh tự minh chứng là một thực tại công giáo tự bản chất.[39][27] Nhấn mạnh đến căn nguyên của sự hiệp thông Hội Thánh xuất phát từ Bí tích Thánh Thể, có thể đóng góp đầy hiệu năng cho việc đối thoại đại kết với các Giáo Hội và các Cộng Đoàn giáo hội chưa hiệp thông trọn vẹn với Ngai Tòa thánh Phêrô. Bí tích Thánh Thể kết nối một cách khách quan mối giây liên kết bền chặt giữa Hội Thánh công giáo và các Giáo Hội Chính thống, là những Giáo Hội còn nắm vững bản chất không sai lệch và nguyên vẹn của mầu nhiệm Bí tích Thánh Thể. Đồng thời, việc nhấn mạnh đến đặc tính giáo hội của Bí tích Thánh Thể cũng có thể trở thành một yếu tố quan trọng trong việc đối thoại với các cộng đoàn phát sinh từ cuộc Cải Cách.[40][28]

 

Bí tích Thánh Thể và các bí tích

 

Đặc tính bí tích của Hội Thánh

16. Công đồng Vaticanô II đã nhắc nhớ rằng “tất cả các bí tích, cũng như các thừa tác vụ trong Hội Thánh và các hoạt động tông đồ, đều gắn liền với Bí tích Thánh Thể và quy hướng về đó. Thật vậy, Bí tích Thánh Thể chí thánh chứa đựng tất cả của cải thiêng liêng của Hội Thánh, đó là chính Đức Kitô ; Người là Chiên Vượt Qua của chúng ta ; Người là Bánh Hằng Sống, ban sự sống cho nhân loại bằng chính Thịt của Người, Thịt đã nhờ Thánh Thần mà có sự sống và làm cho con người được sống. Như thế, Người mời gọi và dẫn đưa con người hiến dâng chính mình, dâng những vất vả của mình và mọi tạo vật làm một với Người”[41][29]. Người ta sẽ hiểu sự liên hệ thâm sâu của Bí tích Thánh Thể với tất cả các bí tích khác và với đời sống kitô hữu ngay từ gốc rễ khi nhìn mầu nhiệm Hội Thánh như bí tích.[42][30] Về chủ đề này, Công đồng còn nhấn mạnh : “Trong Chúa Kitô, Hội Thánh một cách nào đó là bí tích, nghĩa là dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại”[43][31]. Như thánh Cyprianô nói : “Hội thánh như dân được kết hợp từ sự duy nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”[44][32], nên Hội thánh là Bí tích của sự hiệp thông với Ba Ngôi Thiên Chúa. Thực vậy, Hội Thánh là “Bí tích phổ quát của ơn cứu độ”[45][33] ; điều này cho thấy “nhiệm cục” bí tích xác định cách thức Đức Kitô, Đấng Cứu độ duy nhất, nhờ Chúa Thánh Thần, đến với cuộc sống của chúng ta trong những đặc thù riêng của cuộc sống ấy. Hội thánh đón nhận và đồng thời diễn tả chính mình trong bảy bí tích ; nhờ các bí tích này, ân sủng của Thiên Chúa tác động cụ thể trên cuộc sống của các tín hữu, để trọn cuộc đời đã được Đức Kitô cứu độ trở thành một phượng tự đẹp lòng Thiên Chúa. Trong nhãn quan này, tôi muốn nhấn mạnh đến vài yếu tố được các nghị phụ nêu lên, có thể giúp chúng ta nắm bắt được mối liên hệ của tất cả các bí tích với Mầu Nhiệm Thánh Thể.

 

I. Bí tích Thánh Thể với việc khai tâm kitô giáo

 

Bí tích Thánh Thể, sự viên mãn của việc khai tâm kitô giáo

17. Nếu thật sự Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và chóp đỉnh của đời sống và sứ vụ của Hội Thánh, thì trước hết tiến trình khai tâm kitô giáo phải hướng đến khả năng lãnh nhận bí tích này. Như các Nghị Phụ đã nói, chúng ta phải tự hỏi xem cộng đoàn của chúng ta đã ý thức rõ về mối liên hệ chặt chẽ giữa các bí tích Rửa Tội, Thêm Sức và Thánh Thể hay chưa.[46][34] Chúng ta không bao giờ được quên rằng chúng ta được rửa tội và thêm sức để nhằm vào việc lãnh nhận Bí tích Thánh Thể. Điều này đưa đến trách nhiệm mục vụ, phải giúp người ta có một sự hiểu biết thống nhất hơn về tiến trình khai tâm kitô giáo. Bí tích Rửa Tội giúp chúng ta được đồng hình đồng dạng với Đức Kitô,[47][35] được đón nhận vào Hội thánh và trở thành con Thiên Chúa, đó là cửa ngõ để tiến đến các bí tích khác. Với bí tích này, chúng ta được gia nhập vào Thân Thể duy nhất của Đức Kitô (x. 1Cr 12,13), vào dân tư tế. Tuy nhiên, chính việc tham dự vào hy tế Thánh Thể mới kiện toàn trong chúng ta những gì bí tích Rửa tội đã ban cho chúng ta. Các ân huệ của Chúa Thánh Thần cũng được trao ban để xây dựng thân thể Đức Kitô và một chứng từ mạnh mẽ hơn cho Tin Mừng trong thế giới.[48][36] Vì thế, Bí tích Thánh Thể cực thánh mới kiện toàn việc khai tâm kitô giáo và trở thành trung tâm và mục đích của toàn bộ đời sống bí tích.[49][37]

 

Trình tự của các bí tích khai tâm

18. Về điều này, cần phải chú ý đến trình tự của các bí tích khai tâm. Trong Hội Thánh có nhiều truyền thống khác nhau. Sự khác biệt này xuất hiện rõ rệt trong các truyền thống của giáo hội Đông Phương [50][38] và trong thực hành của Phương Tây về việc khai tâm cho người trưởng thành [51][39] so với khai tâm của các trẻ em.[52][40] Sự khác biệt như thế không thuộc về mặt tín lý, nhưng là về mặt mục vụ. Cần phải xem xét cụ thể cách thực hành nào sẽ giúp ích nhiều nhất cho người tín hữu thấy Bí tích Thánh Thể là một thực tại mà toàn bộ việc khai tâm đều phải nhắm tới. Các Hội Đồng Giám mục đều muốn cộng tác với các Bộ thuộc giáo triều Rôma để đánh giá các cách khai tâm hiện hành, để nhờ hoạt động giáo dục của các cộng đoàn chúng ta, người kitô hữu được giúp đỡ để trưởng thành ngày một hơn trong một cuộc sống hướng chiều về Thánh Thể, có khả năng trả lời về niềm hy vọng của mình theo cách thức thích hợp với thời đại chúng ta (x. 1Pr 3,15).

 

Khai tâm, cộng đoàn giáo hội và gia đình

19. Phải luôn nhắc nhớ tất cả việc khai tâm kitô giáo là con đường hoán cải được hoàn tất nhờ vào sự trợ giúp của Thiên Chúa và trong liên hệ kiên vững với cộng đoàn giáo hội, dù đó là trường hợp của một người trưởng thành xin gia nhập vào Hội Thánh như ở những nơi vừa được Phúc Âm hóa và trong những vùng đã bị tục hóa, hay là do cha mẹ xin cho con cái mình. Về đề tài này, trước tiên tôi muốn mọi người chú tâm vào liên hệ giữa sự khai tâm kitô giáo với gia đình. Trong hoạt động mục vụ, gia đình kitô hữu phải tham gia vào con đường khai tâm này. Việc lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, Thêm Sức và Rước Lễ lần đầu là những thời điểm quyết định không những cho cá nhân của người lãnh nhận bí tích, nhưng là cho cả gia đình ; gia đình cũng cần phải được cộng đoàn giáo hội với các thành phần khác nhau nâng đỡ trong trách nhiệm giáo dục.[53][41] Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh đến tính chất quan trọng của việc Rước Lễ lần đầu. Nhiều kitô hữu vẫn luôn nhớ đến ngày kỷ niệm này như là giây phút đầu tiên, dù chỉ là sơ khởi, khám phá tầm quan trọng của sự gặp gỡ cá nhân với Chúa Giêsu. Việc mục vụ của giáo xứ phải biết tận dụng cơ hội đầy ý nghĩa này một cách thích hợp.

 

II. Bí tích Thánh Thể và bí tích Giao Hòa

 

Sự liên hệ nội tại của hai bí tích này

20. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng xác quyết rằng, tình yêu đối với Bí tích Thánh Thể sẽ đưa đến việc đánh giá cao bí tích Giao Hòa.[54][42] Căn cứ vào sự liên kết giữa những bí tích này, giáo lý đúng đắn về ý nghĩa Bí tích Thánh Thể phải dẫn đến con đường sám hối (x. 1Cr 11,27-29). Phải công nhận rằng, các tín hữu trong thời đại chúng ta, đang sống trong một văn hóa xa dần cảm thức về tội lỗi [55][43] đưa đến một thái độ hời hợt, quên sự cần thiết phải ở trong ân nghĩa của Thiên Chúa thì mới có thể rước lễ cách xứng đáng.[56][44] Trong thực tế, việc đánh mất ý thức về tội luôn đưa đến sự hời hợt để nhận ra tình yêu Thiên Chúa. Cũng cần gợi lên cho người tín hữu những yếu tố trong nghi thức thánh lễ, giúp ý thức về tội mình và đồng thời về lòng thương xót của Thiên Chúa.[57][45] Ngoài ra, liên hệ giữa Bí tích Thánh Thể và bí tích Giao Hòa giúp chúng ta nhớ rằng, tội lỗi không bao giờ là thực tại hoàn toàn cá nhân ; tội luôn mang một thương tổn giữa cộng đoàn giáo hội, mà chúng ta được gia nhập nhờ bí tích Rửa Tội. Vì thế việc hòa giải, như các giáo phụ gọi, là một loại phép rửa đòi lao nhọc (laboriosus quidam baptismus)[58][46], để nhấn mạnh hiệu quả của con đường sám hối là tái lập sự hiệp thông trọn vẹn với Hội Thánh, biểu lộ qua việc lại được lãnh nhận Bí tích Thánh Thể.[59][47]

 

Vài hướng dẫn mục vụ

21. Thượng Hội Đồng nhắc nhớ rằng trách nhiệm mục vụ của Giám mục trong địa phận là phải thúc đẩy giáo dục lòng sám hối xuất phát từ Bí tích Thánh Thể và khuyến khích giáo dân thường xuyên đi xưng tội. Mọi linh mục phải quảng đại trong việc ban bí tích Giao Hòa.[60][48] Về vấn đề này, phải chú ý đến việc đặt các tòa giải tội cách nào để dễ nhận ra và phải làm nổi bật ý nghĩa của bí tích này. Tôi xin các vị mục tử, phải chú ý đến cách thức trao ban Bí tích Giao Hòa và thu hẹp việc thực hành xá giải chung vào những trường hợp được qui định,[61][49] vì việc giải tội cá nhân là hình thức thông thường duy nhất.[62][50] Để có thể canh tân việc lãnh nhận bí tích Giao Hòa, mỗi Giáo Phận phải luôn có một linh mục mang đặc quyền Xá Giải (Paenitentiarius).[63][51] Cuối cùng, việc thực hành khôn ngoan và quân bình để lãnh nhận các ân xá cho bản thân hay cho các kẻ đã qua đời, sẽ là một hỗ trợ hữu ích để gây ý thức về mối kiên hệ giữa Bí tích Thánh Thể và bí tích Giao Hòa. Với ân xá này, “chúng ta nhận được ơn tha thứ các hình phạt tạm do tội lỗi trước mặt Thiên Chúa dù lỗi lầm đã được tha thứ”[64][52]. Việc sử dụng các ân xá giúp hiểu rằng với sức lực của riêng mình, chúng ta không thể nào sửa đổi lại điều xấu đã phạm và tội lỗi của từng cá nhân cũng làm hại cho toàn thể cộng đoàn. Vì thế việc thực hành ân xá cho thấy, ngoài giáo lý về công trạng vô tận của Đức Kitô và của sự hiệp thông các thánh, “chúng ta được kết hợp chặt chẽ với nhau trong Đức Kitô và đời sống siêu nhiên của mỗi người cũng đem lại lợi ích cho kẻ khác”[65][53]. Vì chính cách làm này, trong số các điều kiện, đòi buộc phải lãnh nhận Bí tích Giao Hòa và rước lễ, nên việc thực hành này có thể nâng đỡ các tín hữu thật hữu hiệu trên con đường sám hối và trong việc khám phá đặc tính trung tâm của Bí tích Thánh Thể trong đời sống người kitô hữu.

 

III. Bí tích Thánh Thể và Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân

22. Chúa Giêsu không những sai các môn đệ đi chữa lành bệnh nhân (x. Mt 10,8 ; Lc 9,2 ; 10,9), nhưng còn thiết lập một bí tích đặc biệt cho họ : đó là Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân.[66][54]thư của thánh Giacôbê xác nhận hành động bí tích này đã có trong các cộng đoàn kitô hữu tiên khởi (x. 5,14-16). Nếu Bí tích Thánh Thể cho thấy cuộc khổ nạn và cái chết của Đức Kitô được biến đổi thành tình yêu, thì Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân nối kết những người đang đau yếu với việc tự hiến của Đức Kitô để mang lại ơn cứu độ cho mọi người, đến độ bệnh nhân trong mầu nhiệm hiệp thông chư thánh cũng được tham gia vào việc cứu độ thế giới. Sự liên hệ của những bí tích này được biểu hiện khi bệnh tật trở nên trầm trọng : “Hội Thánh trao ban cho những người hấp hối, ngoài bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân, còn có Bí tích Thánh Thể như Của Ăn Đàng”[67][55]. Trên đường trở về Nhà Cha, việc rước lấy Mình Máu thánh Chúa như mầm giống cho đời sống vĩnh cửu và sức lực cho sự phục sinh : “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6,54). Việc rước lấy Của Ăn Đàng khai mở cho bệnh nhân sự viên mãn của mầu nhiệm vượt qua, vì thế phải bảo đảm cho bệnh nhân rước lễ.[68][56] Việc chú tâm và chăm sóc mục vụ cho bệnh nhân, sẽ chắc chắn đem đến lợi ích thiêng liêng cho cả cộng đoàn, vì biết rằng điều mà chúng ta làm cho người bé mọn nhất, là chúng ta làm cho Đức Kitô (x. Mt 25,40).

 

IV. Bí tích Thánh Thể và Bí tích Truyền Chức Thánh

 

Nhân danh Đức Kitô là Đầu (In persona Christi capitis)

23. Sự liên hệ nội tại giữa Bí tích Thánh Thể và Bí tích Truyền Chức Thánh xuất phát từ chính lời của Chúa Giêsu trong phòng Tiệc Ly : “Hãy làm việc này để tưởng nhớ đến Thầy !” (Lc 22,19). Vào chiều trước khi chịu khổ nạn, Đức Giêsu đã thiết lập Bí tích Thánh Thể và đồng thời cũng thiết lập chức tư tế của Giao Ước Mới. Người là tư tế, là lễ vật và là bàn thờ : Đấng Trung Gian giữa Thiên Chúa Cha và đoàn dân (x. Dt 5,5-10), lễ vật đền tội (x. 1Ga 2,2 ; 4,10) tự hiến dâng trên bàn thờ thập giá. Không ai có thể nói : “Này là Mình Thầy” và : “Này là chén Máu Thầy” nếu không phải là nhân Danh và trong cương vị của Đức Kitô, Đấng là Thượng tế duy nhất của Giao Ước mới và vĩnh cửu (x. Dt 8-9). Trong các cuộc họp khoáng đại khác, Thượng Hội Đồng Giám Mục đã trao đổi về thừa tác vụ tư tế, về căn tính của thừa tác viên,[69][57] và về việc đào tạo các ứng viên.[70][58] Nhân dịp này và dựa vào cuộc trao đổi trong Thượng Hội Đồng Giám mục vừa rồi, tôi buộc phải gợi lại vài điểm quan trọng, về liên hệ giữa Bí tích Thánh Thể và Bí tích Truyền Chức Thánh. Trước tiên, cần phải nhắc đến liên hệ giữa Chức Thánh và Bí tích Thánh Thể được biểu lộ rõ ràng cụ thể trong thánh lễ do vị Giám mục hay vị linh mục chủ sự nhân danh Đức Kitô là Đầu.

Theo giáo lý Hội Thánh, Bí tích Truyền Chức Thánh là điều kiện tất yếu để cho việc cử hành thánh lễ được thành sự.[71][59] Vì “trong việc phục vụ Giáo hội của thừa tác viên có chức thánh, chính Đức Kitô hiện diện trong Hội Thánh của Người như là Đầu của thân thể, Mục Tử của đàn chiên, Thượng Tế của hy lễ cứu chuộc”<%2

Tin mới hơn