Học viện thánh thể
 
Học viện thánh thể


LỊCH CG
Thống kê truy cập
Online: 29
Lượt truy cập: 1231847
ĐẤM NGỰC: MỘT HÀNH VI PHỤNG VỤ
Một tín hữu viết thư hỏi rằng: “Theo như con biết, trong kinh Cáo mình, thực hành truyền thống của Giáo Hội là khi đọc đến câu ‘lỗi tại tôi... mọi đàng’ thì mọi người đấm ngực tỏ lòng sám hối. Nhưng có người lại nói làm như vậy là sai. Vậy xin cha cho biết cử chỉ này còn được áp dụng không?.....

ĐẤM NGỰC: MỘT HÀNH VI PHỤNG VỤ

 

 

Lm. Giuse Phạm Đình Ái, SSS

 

Một tín hữu viết thư hỏi rằng: “Theo như con biết, trong kinh Cáo mình, thực hành truyền thống của Giáo Hội là khi đọc đến câu ‘lỗi tại tôi... mọi đàng’ thì mọi người đấm ngực tỏ lòng sám hối. Nhưng có người lại nói làm như vậy là sai. Vậy xin cha cho biết cử chỉ này còn được áp dụng không?

Bài viết sau đây không chỉ nhằm trả lời thắc mắc ở trên liên quan đến cử chỉ đấm ngực trong kinh Cáo mình mà còn mở rộng hơn để trình bày hành vi đấm ngực trong phụng vụ nói chung.

Ý nghĩa của cử chỉ đấm ngực

Chúng ta phải nói trước hết đến một bức tranh cổ về thánh Giêrônimô (347-420) trong sa mạc vì sau khi chịu phép rửa năm 19 tuổi, thánh nhân đã quyết tâm hiến mình cho Chúa nên đã đến sống đời tu khổ hạnh khoảng hai năm trong sa mạc Chalcis (Syria), một nơi vừa hoang vu, đầy đá sỏilại vừa nóng như thiêu đốt. Trong bức họa này, tác giả vẽ thánh Giêrônimô quỳ gối trên đất và đấm ngực mình bằng một hòn đá như muốn tự ý xử phạt mình, bày tỏ lòng thống hối và buồn đau về quá khứ. Thật ra, không phải chỉ có thánh Giêrônimô, hầu hết loài người đều tỏ dấu ăn năn bằng cách dùng tay đấm vào ngực mình. Đây là cử chỉ trong mọi nền văn hóa. Nhưng đối với Kitô giáo, nó mang một ý nghĩa đặc biệt, bởi vì cử hành phụng vụ dạy chúng ta sống ơn gọi của mình bằng cách hoán cải mỗi ngày hầu tìm thấy niềm vui khi cảm nhận được tình thương và ơn tha thứ của Chúa.[1]

Thật vậy, đấm ngực biểu lộ sự buồn sầu, bất xứng, khiêm nhường và sám hối nhìn nhận thân phận tội lỗi của con người trước Thiên Chúa. Đấm ngực để xin Chúa thứ tha, muốn làm đẹp lòng Ngài hoặc xin Ngài ban cho một ân huệ. Tất cả những ý nghĩa trên đều có thể hàm chứa trong trường hợp viên thu thuế đứng lẻn đàng xa, không dám ngước mắt lên trời, nhưng đấm ngực mà rằng: “Lạy Thiên Chúa, xin khấng thương tôi là đứa tội lỗi! (Lc 18,14), hay trong trường hợp các nhân chứng về cái chết của Đức Kitô trên Thập giá, họ “đã kéo đến xem cảnh tượng ấy, khi thấy sự việc đã xảy ra, đều đấm ngực trở về” (Lc 23,48). Cử chỉ biểu tỏ lòng ăn năn này còn được tìm thấy trong nhiều đoạn Thánh Kinh khác nữa như: Nk 3,8; Mt 24,30; Mc 13,26; Lc 21,27.[2]

Đấm ngực để tỏ lòng thống hối vì tội lỗi bao giờ cũng phát xuất từ lòng chúng ta đúng như lời Thánh vịnh 51 viết rằng:

Xin rửa con sạch hết lỗi lầm tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy. Vâng, con biết tội mình đã hạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm. Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài... Nhưng Ngài yêu thích tâm hồn chân thật, dạy con thấu triệt lẽ khôn ngoan. Xin dùng cành hương thảo rảy nước thanh tẩy con, con sẽ được tinh tuyền; xin rửa con cho sạch, con sẽ trắng hơn tuyết. Xin cho con được nghe tiếng reo mừng hoan hỷ, để xương cốt bị Ngài nghiền nát được nhảy múa tưng bừng. Xin ngoảnh mặt đừng nhìn bao tội lỗi và xoá bỏ hết mọi lỗi lầm.Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ (Tv 51, 4-12).

Chúng ta dùng tay đấm ngực vì tay trở thành ngôn ngữ tố cáo lòng chúng ta. Do lòng đã thuận nên mọi sự dữ mới phát sinh. Khi đấm ngực chúng ta mong ước Thiên Chúa sẽ ra tay mà ban tặng chúng ta một quả tim mới, sẽ đặt vào lòng chúng ta thần khí mới, loại quả tim chai đá ra khỏi thân mình chúng ta để chúng ta có thể lãnh nhận một quả tim mới bằng thịt mềm biết yêu thương (Ed 36,26). Khi đấm ngực, chúng ta biểu lộ sự sẵn lòng lột bỏ bất kỳ sự lười biếng thiêng liêng nào vốn đã nảy sinh do bóng đêm của tội lỗi và sự cứng cỏi của cõi lòng, tức là thoát khỏi sự thống trị của Thần Dữ.[3] Thánh Giêrônimô (347-420) tuyên bố rằng sỡ dĩ chúng ta đấm ngực vì ngực là nơi chốn của những tư tưởng xấu xa, khi đấm ngực chúng ta muốn xua tan những tư tưởng này, chúng ta mong ước tâm hồn mình được thanh tẩy.[4]

Trong tác phẩm Sacred Signs được viết năm 1955, cha Guardini cho rằng đấm ngực có một ý nghĩa nội tâm, đó là hành động đánh thức hay thức tỉnh lương tâm để chúng ta biết hoán cải tâm hồn mình mà làm theo lời mời gọi của Chúa và quay về với Ngài. Đấm ngực được ngài nhìn nhận y như hành động tấn công vào cánh cửa thế giới nội tâm để làm cho chúng vỡ ra tan tành, là dấu chỉ hữu hình chúng ta đáp lại tiếng nói của Chúa: hãy sám hối, hãy ăn năn.

Thực hành đấm ngực trong phụng vụ

Ngay từ thế kỷ IV, thánh Giêrônimô (347-420) và thánh Augustinô (354-430) đã dạy rằng ngay khi nghe đọc kinh tới chữ “Tôi thú nhận” (confessio) thì các tín hữu phải đấm ngực đến độ âm thanh nổi lên ầm ầm trong thánh đường hầu đem ra ánh sáng những điều còn dấu kín trong lòng và nhờ hành vi này mà thanh tẩy những tội lỗi còn ẩn khuất nơi mình. Bên cạnh đó, thời các ngài, mỗi khi đọc tới câu ‘và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con’ trong kinh Lạy Cha, thì cả linh mục và giáo dân cũng đều đấm ngực.[5]

Trước kia, khi chưa có sự canh tân của Công đồng Vatican II, đã có truyền thống là các giáo hữu đấm ngực khi đọc hay hát: “Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, xin thương ...” (Agnus Dei) và cả khi đọc lời kinh trước hiệp lễ: “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con... (Domine non sun dingus).Vị tư tế cũng đấm ngực đang khi đọc (hay hát) kinh Đây Chiên Thiên Chúa (Agnus Dei) ngoại trừ trong Thánh lễ cầu hồn để tỏ cho thấy ngài đang nghĩ về người quá cố hơn là về chính mình. Cử chỉ đấm ngực khi đọc câu “Lạy Chiên Thiên Chúa...” được biết là đã tồn tại khoảng năm 1311. Còn cử chỉ đấm ngực khi đọc: “Lạy Chúa con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con...” đã xuất hiện năm 1499 từ bản thảo bằng tiếng Tây Ban Nha.[6]

Về nghi thức thống hối và kinh Cáo mình trong Thánh lễ: ban đầu, phần sám hối này chỉ được thực hiện trong phòng thánh do lòng sốt sắng cá nhân của vị tư tế nhằm chuẩn bị cho Thánh lễ sắp cử hành,[7] hoặc vị tư tế đọc những lời nguyện thống hối (apologiae) trên đường tiến tới bàn thờ.[8] Đây cũng là một phần kinh nguyện riêng của Đức Giáo hoàng trong thế kỷ VII tại Roma như được đề cập trong cuốn Ordo Romanus I. Từ thế kỷ thứ IX, trong các Thánh lễ ở vùng Franc, người ta thêm vào nhiều lời nguyện riêng tư và đọc thầm của vị chủ tế, dần dần những lời nguyện này trở thành kinh Cáo mình (Confiteor) vào thế kỷ XI.[9] Kinh Cáo mình như thế có thể tìm thấy trong Micrologus của Berhold khoảng năm 1110.[10] Tập quán “cáo mình” được đưa vào Thánh lễ phát xuất từ việc xưng tội lẫn nhau hằng ngày của các thày tại các đan viện trong khi đọc kinh Thần Vụ.[11] Do đó, vào cuối thời Trung cổ, người ta cử hành sám hối chung trước khi hát ca nhập lễ tại nhiều đan viện.[12]

Sau đó, kinh Cáo mình được sử dụng khắp hoàn vũ theo nghi thức Rôma như được chỉ định trong Sách lễ của Đức Piô V (1570). Tuy nhiên, phần sám hối chỉ được thực hiện tại chân bàn thờ dưới dạng đối đáp giữa vị linh mục và những người phục vụ bàn thờ (đại diện cho dân chúng) chứ không dự trù sự tham dự của giáo dân. Kinh Cáo mình của Sách lễ 1570 không thay đổi từ đó cho đến năm 1970. Kinh này rất phức tạp, linh mục thú tội cùng Thiên Chúa, Đức Mẹ Maria, các thánh Micael, Gioan Tẩy giả, Phêrô và Phaolô, tất cả các thánh và cộng đoàn - thậm chí đề cập toàn bộ danh sách như thế hai lần và đấm ngực ba lần.[13] Nhận ra sự phức tạp đó, Nhóm Nghiên Cứu số 10 [áp dụng những đổi thay của Công đồng Vatican II] ưa thích bản văn kinh Cáo mình từng được các tu sĩ Đaminh sử dụng hơn vì chúng đơn giản hóa danh sách các thánh. Nhờ thế, bản văn kinh Cáo mình được sửa đổi sau này [như đang được đọc hiện nay] chỉ đề cập đến Thiên Chúa và Đức Mẹ, không còn nêu tên nhiều vị thánh nữa mà chỉ nói chung trong một cụm từ là các thiên thần và các thánh.

Trước Công đồng Vatican II, vị tư tế đấm ngực mình 3 lần đang khi đọc những lời “lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng” (mea culpa, mea culpa, mea maxima culpa) của kinh Cáo mình, các chú giúp lễ cũng làm như vị tư tế, còn các tín hữu thì không, vì bấy giờ họ tham dự Thánh lễ như những người quan sát nhiều hơn và thường không làm gì cả. Tình trạng thụ động này của tín hữu đã được thay đổi nhờ cuộc canh tân phụng vụ của Công đồng Vatican II. Bởi thế, ngày nay, chữ đỏ của nghi thức Thánh lễ (số 3) quy định rõ ràng rằng các tín hữu đấm ngực đang khi đọc những lời “lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng” (mea culpa, mea culpa, mea maxima culpa) trong kinh Cáo mình thuộc nghi thức nhập lễ [và cả trong giờ kinh tối nếu sử dụng kinh này] để mọi người ý thức một cách mạnh mẽ hơn rằng tội lỗi là của chính chúng ta. Đức Bênêđictô XVI viết:

Cử chỉ này không chỉ về người nào khác, nhưng chỉ đến chính mình là kẻ có tội, vẫn là một cử chỉ cầu nguyện có ý nghĩa... Khi nói mea culpa, chúng ta trở về với chính mình, tới cửa nhà chúng ta, và vì thế chúng ta có thể kêu xin sự tha thứ của Thiên Chúa, các thánh và những người đang quy tụ chung quanh, những người chúng ta đã xúc phạm tới họ.[14]

Việc các tín hữu đấm ngực đang khi đọc những lời lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng gợi lại cho chúng ta những lời trong Tin Mừng Luca: Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi (Lc 18,13).[15]

Số lần đấm ngực đã được cha Edward McNamara cho biết rằng các bản dịch nghi thức Thánh lễ cũng như thực hành chung của nhiều quốc gia hiện nay là đấm ngực 3 lần phù hợp với 3 lần chúng ta thừa nhận lầm lỗi của mình khi đọc kinh Cáo mình. Việc lập lại đến 3 lần hành vi đấm ngực là nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của cử chỉ này cũng như giúp chúng ta tập trung vào ý nghĩa nội tại của những gì chúng ta đọc lên và hành động.[16]

Ngoài thực hành đấm ngực trong kinh Cáo mình, ngày nay, vị chủ tế còn dùng tay mặt đấm ngực một lần khi ngài đọc những lời “Xin cũng cho chúng con là tôi tớ tội lỗi” trong Kinh Tạ Ơn I. Hành động này như gợi lại những lời trong Tin Mừng Luca (Lc 18,13).[17]Tuy nhiên, vị tư tế không còn đấm ngực đang khi đọc (hay hát) kinh Đây Chiên Thiên Chúa (Agnus Dei) nữa như trong Thánh lễ trước Công đồng Vatian II vì hai tay ngài đang bẻ Bánh Thánh.[18]

 



[1] Xc. Antonio Donghi, Words and Gesture in the Liturgy, translated from Italian by William McDonough, Dominic Serra, Ted Bertagni(Collegeville : Liturgical Press, 2009), 10.

[2] Xc. A.G. Martimort, “Structure and Laws of the Liturgical Celebration” trong The Church at Prayer, Vol. I (Minnesota: The Liturgical Press, 1992), 186; Xc. Joseph Ratzinger, Der Geist der Liturgie (Verlag Herder Freiburg im Breisgau, 8th edition, 2007). Bản dịch Việt ngữ: “Tinh Thần Phụng vụ” từ bản tiếng Anh “The Spirit of Liturgy”. Dịch giả: Nguyễn Luật Khoa, ofm. (Nxb. Tôn Giáo, 2007), 223.

[3] Xc. Antonio Donghi, Words and Gesture in the Liturgy, 32.

[4] In Ezechiel, c. xviii trích lại trong Andrew Meehan, "Striking of the Breast" trong The Catholic Encyclopedia, Vol. 2 (New York: Robert Appleton Company, 1907) - 18 Oct. 2015 <http://www.newadvent.org/cathen/02751a.htm>.

[5] Xc. Lm. Aug. Nguyễn Văn Trinh, Thánh lễ 2, 117.

[6] Xc.Andrew Meehan, op. sit.

[7] Xc. Johannes H. Emminghaus, The Eucharist - Essence, Form, Celebration (Minnesota:The Liturgical Press, 1997), 118.

[8] Xc. John Baldovin, "History of the Latin Text and Rite" trong Edward Foley(ed), A Commentary on the General Instruction of the Roman Missal(Minnesota: A Pueblo, The Liturgical Press, 2007), 121.

[9] Vinhsơn Nguyễn Thế Thủ, Giải Đáp Các Vấn Nạn Về Phụng Vụ (Hà Nội : nxb. Tôn Giáo, 2001), tập 1, 47-48.

[10] PL 101:979A, trích lại trong John Baldovin, "History of the Latin Text and Rite", 121.

[11] Vinhsơn Nguyễn Thế Thủ, Giải Đáp Các Vấn Nạn Về Phụng Vụ, 48; John Baldovin, "History of the Latin Text and Rite", 148.

[12] Vinhsơn Nguyễn Thế Thủ, Giải Đáp Các Vấn Nạn Về Phụng Vụ, 145-146.

[13] Lawrence J. Johnson, The Mystery of Faith(Washington DC: FDLC, NE, 2003), 12-13.

[14] Joseph Ratzinger, Tinh thần Phụng vụ, 207.

[15] John D. Laurance (ed), The Sacrment of the Eucharist(Minnesota: The Liturgical Press, 2012),106-107.

[16] Xc. Edward McNamara, “Breast - Beating during the Confiteor”
trong
Zenit.org (Rome - December 13, 2011).

[17] Xc. John D. Laurance (ed), The Sacrament of the Eucharist, 106-107.

[18] Xc. Notitiae 14 (1978) 534-535, no. 10 - Nghi thức Hiệp lễ trong Sách lễ 1962: sau kinh Lạy Cha, tư tế đọc thầm kinh khẩn nài đang khighi dấu bằng đĩa thánh trên Bánh Thánh và rồi bẻ Bánh Thánh trên chén. Ngài đặt nửa bên phải của Bánh Thánh vừa bẻ lên đĩa thánh rồi bẻ lấy một mẩu nhỏ từ nửa Bánh Thánh còn lạibỏ vào trong chén Máu Thánh trong khi thinh lặng đọc một lời nguyện(lấy từ Sách lễ 1570). Sau đó, chủ tế đậy chén thánh bằng tấm đậy, bái gối, đấm ngực 3 lần trong khi đọc kinh Agnus Dei (Lạy Chiên Thiên Chúa).

 

 

Tin mới hơn
Tin cũ hơn